Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Tình hình Kinh tế - Xã hội năm 2015 và nhiệm vụ năm 2016

Lượt xem: 2971

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2015

 

Thực hiện Nghị Quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2015; các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Nghị quyết của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2015; UBND tỉnh đã ban hành chương trình công tác với các nhiệm vụ và giải pháp, chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội đã đề ra. Nhờ sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân trong tỉnh, tình hình kinh tế xã hội năm 2015 đã có những chuyển biến và đạt kết quả tích cực, nhiều mặt nổi trội, đặc biệt là nhiều công trình trọng điểm hoàn thành đưa vào sử dụng góp phần thúc đẩy phát triển, cụ thể trên các lĩnh vực như sau:

1. Về mục tiêu bình ổn thị trường, thực hiện các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm

Chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức bình quân chung của cả nước và giảm mạnh so với các năm trước[1]; đây là độ tăng chỉ số giá thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây[2].

Lãi suất huy động và cho vay giảm từ 0,2-0,5 % so với đầu năm, tạo điều kiện để các doanh nghiệp và cá nhân vay vốn phát triển sản xuất[3]. Tăng trưởng huy động và tăng trưởng tín dụng vượt chỉ tiêu kế hoạch và cao hơn cả nước[4], trong đó cho vay các chương trìnhtín dụng ưu đãi lãi suấtđược thực hiện tốt[5].Nợ xấu giảm đáng kể so với đầu năm và chiếm khoảng 0,5% tổng dự nợ.

Thu ngân sách tăng cao và sớm vượt dự toán năm[6]. Trong đó, thu nội địa dự kiến đạt 8.000 tỷ đồng, vượt 26% dự toán và tăng hơn 29% so với cùng kỳ; thu xuất nhập khẩu vượt gần 65% dự toán[7], tăng chủ yếu ở mặt hàng nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan về tình hình thu ngân sách thì tỉnh phải cân đối lượng lớn ngân sách để bù hụt thu cho một số huyệnhụt thu trong năm[8].

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên 18.630 tỷ đồng, tăng hơn 12% so với năm trước và chiếm gần 30,5% GRDPđạtchỉ tiêu đề ra trong năm 2015[9], đây là cố gắng lớn trong thực hiện giải pháp trong huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển.Trong đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm gần 30%, chủ yếu tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi và giảm nghèo.

Rà soát, đánh giá, tổng hợp toàn diện tình hình thực hiện các cơ chế ưu đãi đầu tư vượt trội từ 31/12/2005 trở về trước. Xây dựng cơ chế đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2015-2020. Trong năm 2015, đã cấp phép 10 giấy chứng nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn 157,8 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh là 115 dự án với tổng vốn đầu tư hơn1,8 tỷ USD.Số lượng doanh nghiệp mới trong nước tăng; doanh nghiệp giải thể, doanh nghiệp ngừng hoạt động giảm đáng kể so với cùng kỳ[10].Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 90%) nên khó khăn trong huy động vốn, chậm đổi mới công nghệ, khả năng cạnh tranh thấp.

Tập trung rà soát, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 5 năm 2011-2015, bổ sung xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020. Thực hiện Luật Đầu tư công, đã xây dựng và ban hành Nghị quyết về tiêu chí dự án đầu tư công trọng điểm nhóm C; xây dựng quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung giai đoạn 2016-2020. Khó khăn trong xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn là nguồn vốn Trung ương dự kiến sơ bộ thấp hơn rất nhiều so với dự kiến nhu cầu tối thiểu của tỉnh; nguồn vốn tăng thu, vượt thu ngân sách tỉnh phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội từng năm, nên thiếu tính ổn định, khó dự báo cho cả thời kỳ trung hạn. Luật Đầu tư công có hiệu lực từ đầu năm nhưng hướng dẫn thực hiện Luật còn chậm nên lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch đầu tư năm 2016.

Trong thực hiện mục tiêu ổn định phát triển kinh tế vẫn còn gặp phải một số khó khăn. Nhu cầu chi đầu tư phát triển lớn, nhất là yêu cầu đối với các công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2015 phải hoàn thành, việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển tuy có cải thiện nhưng chưađáp ứng đủ yêu cầu. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư để triển khai đầu tư xây dựng một số công trình, dự án lớn gặp khó khăn, vướng mắc đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công dự án: Đường Điện Biện Phủ, đường Tam Kỳ- Phú Ninh, đường trục chính vào Cụm CN Tam Thăng, đường Cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi; Khu liên hợp Sợi - Nhộm - Dệt - May Đông Quế Sơn; dự án Panko - Hàn Quốc tại Khu công nghiệp Tam Thăng, .... Thu nội địa có tốc độ tăng cao và sớm hoàn thành kế hoạch nhưng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn thấp so với dự toán[11], nợ thuế của hai công ty vàng Phước Sơn và Bồng Miêu chậm giải quyết.

2. Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 11,56% (theo phương pháp cũ)[12], đạt kế hoạch đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực phi nông nghiệpchiếm 84%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 16%[13], tuy nhiên mức độ chuyển dịch còn chậm.

  Giá trị sản xuất ngành công nghiệp (giá 2010) đạt gần 50 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 9% so với năm 2014[14].Trong đó tăng chủ yếu ở một số ngành chủ lực của tỉnh như: Sản xuất và lắp ráp ô tô;sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính; sản xuất giường, tủ bàn ghế[15]. Riêng trong ngành khai khoáng mặc dù chỉ số sản xuất ngành vật liệu xây dựng và than có tăng so với năm trước nhưngngành khai thác quặng kim loại (vàng) vẫn giảmvà chưa có dấu hiệu phục hồi nên chỉ số sản xuất ngành khai khoáng vẫn giảm mạnh so với năm 2014[16].

Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng gần 16% so với năm 2014[17]; tuy nhiên tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt570 triệu USD, chưa đạt kế hoạch đề ra[18] và giảm hơn 3% so với năm 2014. Giá trị xuất khẩu đạt thấp chủ yếu là do một số doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu của tỉnh nhưng có đơn đặt hàng ít, hợp đồng giảm nhiềunên giá trị xuất khẩu giảm theo; các doanh nghiệp giày da, quặng và khoáng sản giảm sâu[19].Mộtsố mặt hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá như: Linh kiện điện tử, dệt may[20].

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên 33.200tỷ đồng, tăng gần 17%. Tổng lượt khách tham quan lưu trú ước hơn 3.940 nghìn lượt, tăng 10,5% so với năm 2014. Thị trường du lịch từng bước được mở rộng, khách tham quan và lưu trú tăng nhanh, doanh thu dịch vụ du lịch cao hơn năm trước[21], góp phần tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động.Tuy nhiên, công tác quản lý, kiểm soát việc thu phí tham quan ở một số địa điểm du lịch trên địa bàn tỉnh còn chưa chặt chẽ làm thất thu ngân sách trong việc bán vé tham quan.

Khu vực nông lâm thủy sản tiếp tục duy trì và phát triển ổn định. Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp ước đạt hơn 11.700 tỷ đồng, tăng 4,4% so với năm 2014,đạt kế hoạch đề ra[22]. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt hơn 520.800 tấn, trong đó sản lượng lúa hơn 460.750 tấn.Trong chăn nuôi mặc dù gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh khi hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do được ký kết, giá các loại thức ăn biến động mạnh, luôn ở mức cao nhưng đàn gia súc, gia cầm vẫn phát triển ổn định và có tăng so với năm trước[23]. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc đã được kiểm soát. Chăn nuôi phát triểntheohướng quy mô gia trại, trang trại ngày càng tăng[24]. Tổng sản lượng thủy sản năm 2015 ước đạt 97,8 nghìn tấn, tăng gần 6% so với năm 2014; trong đó sản lượng thủy sản khai thác hơn 77,6 nghìn tấn, sản lượng thủy sản nuôi trồng hơn 20 nghìn tấn.

3. Về thực hiện ba nhiệm vụ đột phá

Về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ.Bên cạnh nguồn vốn trong nước, việc thu hút nguồn vốn từ các chương trình ODA, FDI, NGO được chú trọng và đạt nhiều kết quả. Hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng 15 chương trình, dự án thuộc nguồn vốn ODA đang triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư 4.097 tỷ đồng, tập trung ở các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội và giảm nghèo. Thu hút hơn 1.100 tỷ đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ yếuở những dự án lĩnh vực dịch vụ du lịch và công nghiệp.

Trong năm 2015, nhiều công trình trọng điểm được khánh thành, đưa vào sử dụng nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng Quảng Nam như: Mở rộng và nâng cấp Quốc lộ 1A, Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng, Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, Bảo tàng tỉnh, cầu Kỳ Phú 1&2, nhà khách tỉnh, Quảng trường 24/3, Trường THPT chuyên Lê Thánh Tông, cầu Ái Nghĩa,... Thúc đẩy khởi công một số công trình mới quan trọng như: Cầu Giao Thủy, dự án khu liên hợp Sợi – Nhộm - Dệt – May tại khu công nghiệp Đông Quế Sơn, hạ tầng khu công nghiệp Tam Thăng, dự án sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Khe Tân. Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng dự án đường Cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, đoạn qua Quảng Nam để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án theo đúng tiến độ.

Từng bước chuyển kế hoạch đầu tư hàng năm sang cơ chế quản lý, cân đối vốn đầu tư theo kế hoạch trung hạn.Đã ban hành Nghị quyết về tiêu chí dự án đầu tư công trọng điểm nhóm C; xây dựng quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung giai đoạn 2016-2020.

Tổ chức thực hiện rà soát các dự án chuyển tiếp để phân loại những dự án không có khả năng hoàn thành, không có khả năng thanh toán, hiệu quả sau đầu tư thấp để tạm dừng thi công, giãn, hoãn tiến độ theo tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ.

Khó khăn đối với tỉnh là khả năng huy động nguồn lực còn nhiều hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư lớn; nợ đọng xây dựng cơ bản đòi hỏi tỉnh phải nỗ lực trong việc cân đối ngân sách tỉnh[25].

Về phát triển nguồn nhân lực.Tập trung phát triển giáo dục miền núi, thực hiện tốt chương trình phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho dạy và học.Nhiều mô hình dạy nghề đa dạng và hiệu quả từ các doanh nghiệp; làng nghề; các khu, cụm công nghiệp, cho lao động nông thôn; bộ đội xuất ngũ. Chất lượng dạy nghề đã từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm 45%[26]tổng số lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 54%, cao hơn cả nước,vượt chỉ tiêu đề ra[27]. Cơ cấu lao động phi nông nghiệp chiếm 50%. Khai thác tốt các nguồn học bổng trong và ngoài nước, đồng thời cử một số cán bộ tham gia bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài. Đây là cơ sở ban đầu cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh.

Tồn tại trong phát triển nguồn nhân lực của tỉnh là chất lượng giáo dục, đào tạo tuy có cải thiện nhưng chỉ mới đáp ứng bước đầu cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; lao động phổ thông còn nhiều; chênh lệch lớn chất lượng giáo dục giữa khu vực nông thôn, miền núi và đồng bằng, đô thị.Chất lượng đầu vào một số trường đào tạo còn thấp, chưa gắn kết với nhu cầu sử dụng lao động thực tế; hiệu quả đào tạo nghề còn thấp, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Về cải thiện môi trường đầu tư.Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản, chủ trương, chính sách đã ban hành có liên quan đến công tác cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo Luật Đầu tư. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách của Chính phủ về miễn, giảm, gia hạn nộp thuế cho các doanh nghiệp. Nhiều chương trình cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nhằm đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp.

Tiếp tục thực hiện kế hoạch hành động số 2479/KH-UBND ngày 01/7/2014 về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2014-2015.Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016, tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 06/8/2015 về tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranhvà nhiều chủ trương, chính sách đã ban hành trong thời gian qua nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp.

Chú trọng thu hút đầu tư đồng thời rà soát thu hồi giấy phép đối với các doanh nghiệp không thực hiện theo cam kết.Thực hiện tốt công tác xác định giá đất phù hợp và ổn định, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư để giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư thực hiện dự án, cũng như xây dựng các công trình.Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) luôn duy trì ở nhóm khá và tốt[28].

Tuy đã thực hiện nhiều biện pháp cải thiện môi trường đầu tư nhưng vẫn còn những hạn chế.Công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư còn nhiều vướng mắc về cơ chế, chính sách, giải quyết thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp mặc dù đã rút ngắn nhưng tổng thời gian để đảm bảo cho các thủ tục của một dự án quá dài. Nguồn lực lao động tuy dồi dào nhưng phần lớn chỉ đáp ứng cho các ngành thủ công cần nhiều lao động như: may mặc, giày da, lắp ráp đơn giản.Việcthu hút, xúc tiến các dự án FDI, các dự án lớn mang tính đột phá còn hạn chế. Nhiều khu, cụm công nghiệp cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chưađáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư nên khó khăn trong việc thu hút và lấp đầy.

4. Văn hóa xã hội, an sinh xã hội được đảm bảo

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục phát triển rộng khắp tại các huyện, thành phố, thị xã. Duy trì và phát triển tốt phong trào thể dục thể thao quần chúng, trong năm đã phối hợp tổ chức hơn 200 giải thể thao[29]chào mừng các ngày lễ lớn và nhân các sự kiện quan trọng, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân.Nhiềuhoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chủ yếu tập trung kỷ niệm các ngày thành lập ngành, các hoạt động chào mừng Đại hội Đảng các cấp và nhân sự kiện các ngày lễ lớn trong năm, đặc biệt là kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, 40 năm giải phóng tỉnh Quảng Nam và khánh thành Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng, 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.Tổ chức thành công Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XXI.

Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia năm 2015, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp của tỉnh năm 2015hơn 89% (cả nước 91,6%). Năm học 2015-2016 toàn tỉnh có 789 trường với 10.869 lớp và 324.510 học sinh; so với năm học trước, tăng 06 trường, tăng 180 lớp học và tăng 10.436 học sinh. Số trường chuẩn quốc gia tăng lên đáng kể, cả tỉnh hiện có 411 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ hơn 52%[30]. Hoàn thành và được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.

Thực hiện sắp xếp, sáp nhập và chuyển giao các trung tâm Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp và dạy nghề về cho các huyện quản lý, điều hành. Toàn tỉnh hiện có 47 cơ sở dạy nghề, tổng số lao động được đào tạo nghề năm 2015 hơn 30.000 người, trong đó chủ yếu là trung cấp, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng[31]. Giải quyết việc làm cho 42.000 lao động, trong đó đưa 352 lao động đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài, vượt kế hoạch đề ra[32].

Tổng rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công cách mạng trên địa bàn tỉnh trong 2 năm 2014-2015.Qua rà soát có hơn 87.320 trường hợp thực hiện đúng chế độ, chiếm tỷ lệ gần 92,8%; thực hiện chưa đầy đủ và thực hiện sai chế độ chiếm gần 8%. Phân bổ, chi tặng quà của Chủ tịch nước và của lãnh đạo tỉnh thăm Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015 cho hơn 214 ngàn trường hợp với tổng kinh phí hơn 60 tỷ đồng. Rà soát các trường hợp người có công thuộc diện được hỗ trợ nhà ở. Phân bổ chỉ tiêu điều dưỡng người có công với cách mạng năm 2015 với gần 27.400 lượt người. Tổ chức vận động phụng dưỡng 106 Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống mới được phong tặng nhưng chưa được phụng dưỡng[33]. Xác nhận, thực hiện chế độ hơn 53.500 trường hợp. Thực hiện chi trả trợ cấp đối với 91.000 trường hợp bảo trợ xã hội tại cộng đồng và trên 9.000 hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trợ cấp xã hội với tổng kinh phí 310 tỷ đồng.Hoàn thành giai đoạn 1 về hỗ trợ nhà ở cho người có công với hơn 9.500 nhà.

Thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo của Trung ương và địa phương, đặc biệt là chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững theo Nghị quyết 119 của HĐND tỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 xuống còn dưới 9%. Tính bền vững trong giảm nghèo được tăng lên đáng kể, số lượng hộ thoát nghèo bền vững nhiều hơn gấp 2 lần những năm trước khi có Nghị quyết 119[34].Năm 2015, kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo hơn 282 tỷ đồng[35]. Nguồn vốn này tập trung thực hiện các mục tiêu hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, chăm sóc bảo vệ rừng, hỗ trợ giáo dục đào tạo và dạy nghề tại các địa bàn nông thôn, miền núi, các xã đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển để phân bổ cho các công trình hạ tầng thiết yếu. Ngoài ra Trung ương bổ sung 36 tỷ đồng hỗ trợ cho 2 huyện nghèo của tỉnh theo Quyết định 293 của Thủ tướng Chính phủ; ngân sách tỉnh hỗ trợ 35 tỷ đồng cho 3 huyện nghèo (chương trình 30c) theo Nghị quyết HĐND tỉnh. Phân bổ ngân sách Trung ương gần 32 tỷ đồng để thực hiện Đề án hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt với hơn 2.400/2.686 nhà, gần 90% của Đề án.

Công tác kiểm tra, giám sát, chủ động phòng ngừa các bệnh xã hội được duy trì thường xuyên, nhờ vậy, tình hình các loại dịch bệnh tương đối ổn định, một số ổ dịch bệnh xuất hiện rải rác ở các địa phương như bệnh bạch hầu, sốt xuất huyết nhưng đã được khống chế, không để lây lan trong cộng đồng. Đặc biệt, tổ chức các biện pháp phòng chống dịch bệnh gây hội chứng viêm đường hô hấp cấp vùng Trung Đông do virus Corona (Mers-Cov) theo Công điện của Thủ tướng Chính phủ.Chất lượng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dânngàycàng được nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân; điều kiện chăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn; tình trạng quá tải giường bệnh ở tuyến trên chưa có giải pháp giải quyết hiệu quả.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lao động, người có công và xã hội của tỉnh còn nhiều hạn chế, tồn tại: Tình trạng vi phạm pháp luật lao động của doanh nghiệp, nhất là việc nợ đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Chất lượng lao động qua đào tạo nghề và tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề còn thấp.Một vài chính sách đối với người có công giải quyết chưa kịp thời, việc lập hồ sơ, thủ tục đề nghị giải quyết chế độ chính sách ở một số địa phương còn thiếu sót.Kết quả giảm nghèo có nơi chưa vững chắc,một bộ phận hộ nghèo, nhất là hộ nghèo dân tộc thiểu số không muốn thoát nghèo.

5. Phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi; chương trình nông thôn mới

Thực hiện tốt các chính sách về ưu đãi vốn vay phục vụ cho phát triển sản xuất, dồn điền đổi thửa, cơ giới hóa từ khâu sản xuất đến thu hoạch sản phẩm nông nghiệp; hỗ trợ ngư dân đóng mới, cải hoán tàu thuyền khai thác, đánh bắt xa bờ. Tiếp tục triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ, đồng thời động viên, khuyến khích ngư dân thường xuyên bám biển sản xuất. Thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, UBND tỉnh đã phân bổ chỉ tiêucho các huyện, thị xã, thành phố đóng mới và nâng cấp tàu thuyền.Các ngân hàng thương mại đã tiếp cận các chủ tàu được UBND tỉnh phê duyệt, ký kết hợp đồng cho vay nhưng vẫn còn thấp so với mục tiêu, yêu cầu đề ra của chương trình. Đến nay đãký kết 25 hợp đồng tín dụng với tổng giá trị cam kết gần 250 tỷ đồng, đồng thời đang tiếp tục hướng dẫn và hoàn tất hồ sơ để cho vay đối với các trường hợp đủ điều kiện.

Đã huy động nhiều nguồn lực triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Giai đoạn 2011-2015 ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh huy động hơn 700 tỷ đồng, trong đó riêng năm 2015 đã cân đối hơn 300 tỷ đồng; nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình dự án hơn 3.000 tỷ đồng; hơn 30% nguồn vốn tín dụng hàng năm cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn; đồng thời huy động đóng góp từ các doanh nghiệp và nhân dân. Sau gần5 năm thực hiện Chương trình,tiêu chí đạt chuẩnở các xã trên địa bàn tỉnh được tăng lên đáng kể[36], riêng tiêu chí của các xã đăng ký đạt chuẩn năm 2015 là 18,7 tiêu chí/xã. Như vậy, đến cuối năm 2015 dự kiến có khoảng 54/204 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ gần 26,5%, vượt chỉ tiêu đề ra (20%).

Bằng nhiều nguồn vốn đã hỗ trợ các địa phương thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương, trạm bơm điện phục vụ sản xuất nông nghiệp, hạ tầng làng nghề và xây dựng các tuyến giao thông nông thôn. Hoàn thành đề án phát triển giao thông nông thôn (GTNT)theo Nghị Quyết HĐND tỉnh đề ra, đường GTNT được bê tông hóa từ hơn 2.760 km năm 2010, lên hơn 4.260 km cuối năm 2015, nâng tỷ lệ đường GTNT được bê tông hóa từ 49% lên 66,5%[37].Với nhiều chương trình mục tiêu từ ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh, tập trung đầu tư, hỗ trợ cho khu vực khó khăn, nông thôn, miền núi nên kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, đạt mục tiêu đề ra[38].

Chú trọng phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã.Trong năm 2015 có 11 hợp tác xã được thành lập mới, 07 hợp tác xã giải thể, 117 hợp tác xã chuyển đổi theo Luật hợp tác xã năm 2012; nâng tổng số hợp tác xã đang hoạt động lên 170 hợp tác xã. Doanh thu bình quân hợp tác xã năm 2015 hơn 4,2 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2011. Số thành viên tham gia hơn 175.000 người, trong đó 153.000 thành viên hợp tác xã. Ngành nghề hoạt động chủ yếu lĩnh vực nông lâm ngư nhiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải[39]. Các hợp tác xã chủ động củng cố, phát triển và chuyển đổi theo Luật hợp tác xã 2012; tham gia tích cực chương trình xây dựng nông thôn mới như dồn điền đổi thửa, cánh đồng mẫu lớn, kiên cố hóa kênh mương, giao thông nông thôn, giết mổ gia súc gia cầm tập trung, nước sinh hoạt, điện nông thôn,... Tuy nhiên khó khăn của các hợp tác xã và tổ hợp tác còn lớn, đó là: Công nợ tồn đọng, huy động vốn mới ít; cơ sở vật chất thiếu thốn, xuống cấp; một số hợp tác xã ngưng hoạt động nhưng chưa giải quyết dứt điểm các nội dung tồn tại. Tổ hợp tác quy mô nhỏ, hoạt động tự phát. 

Tồn tại trong phát triển nông thôn, miền núi là vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới chưa được phát huy cao, chất lượng quy hoạch và đề án sản xuất của từng xã còn nhiều bất cập, rập khuôn; nguồn vốn tuy đã được huy động nhưng còn thấp so với nhu cầu bức thiết về tiến độ hoàn thành các tiêu chí; một số cán bộ trực tiếp thực hiện chương trình cấp xã triển khai sai nội dung, phương án sản xuất đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, dẫn đến một số sai phạm phải xác minh xử lý. Việc triển khai các nội dung của Nghị định 67/2014/NĐ-CP còn chậm, còn nhiều lúng túng trong hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, xác định đối tượng đủ điều kiện đóng mới, nâng cấp tàu thuyền.

6. Tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Triển khai lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2016-2020 của tỉnh. Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư để bàn giao mặt bằng cho các dự án; đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ IA, tiếp tục đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tái định cưdự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi đoạn qua địa bàn tỉnh và các dự án trọng điểm trên địa bàn. Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thúc đẩy tiến độ một số dự án ODA về môi trường ở những vùng quan trọng, trước hết là xử lý nước thải, rác thải khu vực đô thị Tam Kỳ, Hội An; cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; khôi phục rừng và phát triển bền vững. Tổ chức đánh giá môi trường chiến lược theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và thực hiện thí điểm về đánh giá phát thải khí nhà kính theo kịch bản của quy hoạch. Triển khai dự án đánh giá tác động biến đổi khí hậu đến nguồn nước mặt lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn.

Tình trạng phá rừng, khai thác rừng và vận chuyển trái phép lâm sản, khoáng sản từng bước được ngăn chặn. Các ngành chức năng và các địa phương triển khai phương án kiểm tra, truy quét các địa bàn trọng điểm về khai thác cát, sạn trái phép lòng sông Vu Gia - Thu Bồn; tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng tại các lưu vực hồ thủy điện.

7. Nội chính, quốc phòng - an ninh, đối ngoại

Toàn ngành đã triển khai thực hiện 147 cuộc thanh tra,trong đó kết thúc 133 cuộc, ban hành kết luận 125 cuộc. Qua thanh tra phát hiện sai phạm gần 41 tỷ đồng, hơn 3,9 triệu m2 đất tại 366 đơn vị, cá nhân sai phạm. Kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước hơn 26,6 tỷ đồng, gần 1,3 triệu m2 đất; xử lý hành chính 93 tập thể và 39 cá nhân.

Công tác tiếp công dân được duy trì thường xuyên; trong năm các cơ quan nhà nước đã tổ chức tiếp hơn 11.120 lượt người, tiếp nhận hơn 7.330 đơn khiếu nại, tố cáo và đơn khác. So với năm trước giảm 6,2% lượt người nhưng số đơn tăng 6,4%, chủ yếu là đơn kiến nghị, phản ánh. Nội dung khiếu nại chủ yếu liên quan đến lĩnh vực tranh chấp đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư, nhất là liên quan đến dự án mở rộng Quốc lộ 1A và đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, chế độ chính sách, tư pháp; tố cáo ở lĩnh vực hành chính và một số lĩnh vực khác.

Các ngành, đoàn thể và nhân dân trong tỉnh tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc; lực lượng an ninh đã mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, tăng cường các cuộc tuần tra nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Công tác quản lý nhà nước về biên giới, lãnh sự, thông tin đối ngoại thực hiện tốt, đảm bảo theo qui định. Chuẩn bị tốt các điều kiện và duy trì thường xuyên các hoạt động Hội nghị thường niên với đoàn đại biểu cấp cao tỉnh Sêkoong của nước bạn Lào.

Hoàn thành tốt công tác giao quân năm 2015, đảm bảo chất lượng, đạt 100% chỉ tiêu đề ra. Triển khai thực hiện kế hoạch khu vực phòng thủ vững chắc.Tiếp tục thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh. Tổ chức huấn luyện các phân đội cứu hộ, cứu nạn ở các cấp. Phối hợp, tổ chức tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn các trường hợp ngư dân gặp sự cố trên biển.

8. Công tác cải cách hành chính; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng lãng phí

Cải cách hành chính được tập trung chỉ đạo quyết liệt, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo điều hành, giải quyết công việc ở các cơ quan, đơn vị ngày càng tích cực, đạt kết quả; công tác rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính được chú trọng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân.

Cơ chế một cửa tiếp tục được triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng thực hiện để giải quyết tốt công việc của tổ chức và công dân.Hiện nay, có 22 Sở, ngành, 17/18 huyện, thị xã, thành phố [40]và 213/244 xã, phường, thị trấn thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết các thủ tục hành chính. Hầu hết các lĩnh vực áp dụng cơ chế “một cửa” đều được xây dựng quy trình có hướng dẫn chi tiết, toàn bộ quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp đều niêm yết công khai tại bảng hướng dẫn và cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị.

Công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ, việc liên quan đến tham nhũng được tiến hành thường xuyên nhằm ngăn chặn các hành vi tham nhũng và kịp thời xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng theo đúng quy định của pháp luật. Các vụ việc, vụ án tham nhũng xảy ra không nhiều và đa số thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trách nhiệm của người đứng đầu ở cơ quan, đơn vị được nâng cao, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành trong phạm vi ngành, địa phương phụ trách.

*

*      *

Nhìn chung, tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2015 đã đạt được những kết quả tích cực. Tăng trưởng kinh tế đạt khá và vượt chỉ tiêu đề ra. Thu nội địa, thu xuất nhập khẩu tăngcao, vượt dự toán năm. Giá cả thị trường, chỉ số giá ổn định; sản xuất nông nghiệp nhìn chung được mùa, dịch bệnh được kiểm soát. Lãi suất huy động và cho vay ổn định, tín dụng tăng trưởng khá. An sinh xã hội được bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; tai nạn giao thông giảm. Tập trung công tác bồi thường, tái định cư, bàn giao mặt bằng để xây dựng các dự án lớn.Khánh thành đưa vào sử dụngvà khởi công một số công trình quy mô lớn đã tạo nên động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội năm 2015 và những năm tiếp theo. Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, các cấp, các ngành, các địa phương tập trung đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015; xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020;tổ chức thành công Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XXI, lập thành tích hướng đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.

So với chỉ tiêu theo Nghị Quyết HĐND tỉnh đề ra về nhiệm vụ năm 2015, có 12/14 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Có 02 chỉ tiêu chưa đạt là: Tốc độ tăng xuất khẩu vàtỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nguyên nhân chủ yếu là do:

- Một số doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của tỉnh gặp khó khăn về thị trường, đơn đặt hàng ít[41] dẫn đến giá trị xuất khẩu giảm mạnh.

- Kế hoạch năm 2015 xây dựng 03 nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp: KCN Đông Quế Sơn, KCN cơ khí ô tô Chu Lai -Trường Hải, KCN Tam Hiệp; nâng số lượng các KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải lên 05/06 KCN (chiếm 83%). Tuy nhiên, do gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư, về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằngđến nay 03 hệ thống xử lý nước thải của các KCNnày vẫn đang triển khai xây dựng.

Số TT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Chỉ tiêu HĐND

Ước thực hiện

1

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

%

11,5

11,56 (PP cũ)

9 (PP mới)

2

Tổng kim ngạch xuất khẩu

%

16

-3

3

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GRDP

%

30,5

30,5

4

Thu nội địa tăng

Tỷ đồng

6.350

8.000

5

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

%

52

54

6

Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn

%

<9,5

<9

7

Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn

%

<14

<14

8

Số giường bệnh/một vạn dân

Giường/vạn dân

29

29,4

9

Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý[42]

%

90

100

10

Tỷ lệ che phủ rừng

%

50

50

11

Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh

%

86

93

12

Tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch

%

70

98

13

Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động được xử lý nước thải tập trung

%

83

33,3

14

Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom

%

86

86

 

Phần thứ hai

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH - TẾ XÃ HỘI NĂM 2016

 

Trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; kinh tế thế giới dự báo phục hồi chậm và còn nhiều khó khăn;tranh chấp chủ quyền trong khu vực diễn ra ngày càng quyết liệt, đặc biệt là trên Biển Đông. Kinh tế trong nước tiếp tục quá trình hội nhập sâu rộng và phải cạnh tranh gay gắt hơn, nhất là khi nước ta gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA)và các hiệp định song phương khác, mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức.

Là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XXI, nhiệm vụ đặt ra rất nặng nề trong khi nguồn lực của tỉnh còn hạn hẹp, đòi hỏi phải nỗ lực phấn đấu cao nhất để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2016.

I. NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2016

1. Nhiệm vụ chủ yếu

Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới bền vững. Tái cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh dịch vụ, công nghiệp, chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Thực hiện tốt các mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập chủ quyền; an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Các chỉ tiêu về kinh tế

- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng khoảng 10%[43] so với năm 2015(cả nước 6,7%).

- Thu nội địa tăng gần 10% so với năm 2015[44].

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15% (cả nước tăng 10%).

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm trên 31% GRDP (cả nước 31%).

2.2. Các chỉ tiêu về xã hội

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2-2,5%[45] (cả nước giảm 1,3-1,5%; riêng các huyện nghèo giảm 4%).

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 56% (cả nước 53%), trong đó lao động qua đào tạo nghề 47%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 13% (cả nước dưới 13,8%).

- Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường trạm y tế xã) đạt 29,8 giường/vạn dân (cả nước 24,5 giường).    

2.3. Các chỉ tiêu về môi trường

- Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý 50%[46] (cả nước 40%).

- Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 71,4% (cả nước 85%)

- Tỷ lệ che phủ rừng 50,6% (cả nước 42,5%)

- Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh 93,4% (cả nước 87%).

- Tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch 98,4% (cả nước 82,5%)

- Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom 88% (cả nước 86%).

II. DỰ KIẾN CÂN ĐỐI LỚN TRONG NĂM 2016

1. Khả năng cân đối ngân sách

Dự kiến tổng thu ngân sách trên địa bàn 13.845 tỷ đồng, tăng hơn 8% so với ước thực hiện năm 2015. Trong đó thu nội địa khoảng 8.795 tỷ đồng, tăng gần 10% so với ước thực hiện năm 2015; thu xuất nhập khẩu4.600 tỷ đồng, thu để lại quản lý qua ngân sách nhà nước 450 tỷ đồng[47].

2. Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến 21.400 tỷ đồng, chiếm trên 31% tổng sản phẩm trong tỉnh (cả nước 31%), tăng gần 15% so với ước thực hiện năm 2015. Dự kiến huy động các nguồn vốn như sau:

- Nguồn vốn đầu tư công gần 4.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ hơn 18,6%, trong đó vốn trái phiếu chính phủ 535 tỷ đồng.

- Nguồn vốn tín dụng đầu tư nhà nước hơn 3.000 tỷ đồng, chiếm hơn 14%.

- Nguồn vốn trung ương đầu tư trên địa bàn 5.000 tỷ đồng, chiếm hơn 23% (dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, đường Đông Trường Sơn, các dự án thủy điện).

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài khoảng 5.000 tỷ đồng,chiếm khoảng 23% (cả nước dự kiến 19%).

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và nhân dân hơn 4.400 tỷ đồng, chiếm 20,6% (cả nước 36%).

3. Lao động việc làm

Năm 2016, giải quyết việc làm mới tăng thêm trong nền kinh tế của tỉnh khoảng 15.000 người.

Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp dự kiến khoảng 47,7%; công nghiệp xây dựng và dịch vụ 52,3%.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

1. Về phát triển kinh tế

Tiếp tục thực hiện tốt đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế, theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa quan hệ thương mại và đầu tư, tăng cường tính chủ động, tránh lệ thuộc nhiều vào một thị trường.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành có giá trị gia tăng cao, bền vững và tăng năng suất lao động.

Đối với ngành nông nghiệp: Triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch nhằm tăng giá trị gia tăng. Phát triển sản xuất các loại giống, nhất là giống lúa. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng nâng cao chất lượng, năng suất, sử dụng công nghệ cao; mở rộng các mô hình chăn nuôi tập trung trang trại, gia trại, gắn với chế biến và xử lý môi trường, tăng cường kiểm soát tình hình dịch bệnh cây trồng, vật nuôi.

Tập trung xây dựng quy hoạch phát triển các vùng nuôi trồng thủy sản, hướng đến áp dụng công nghệ cao, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Chú trọng phát triển các mô hình nuôi thủy sản trong hồ thủy điện để tạo sinh kế cho người dân, đặc biệt là người dân tái định cư các công trình thủy điện. Phát triển các đội tàu khai thác và đánh bắt với công suất lớn gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thực hiện đầy đủ các chính sách của Chính phủ về đóng mới, cải hoán tàu thuyền, hỗ trợ bảo hiểm tàu và thuyền viên, hỗ trợ tín dụng, phát triển dịch vụ hậu cần phục vụ ngư dân đánh bắt dài ngày trên biển.Đặc biệt là đẩy mạnh đóng mới 80 tàu đã được phân bổ chỉ tiêu đóng mới theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP. Nâng cao hiệu quả các công trình thủy lợi, phòng chống thiên tai, đảm bảo nước tưới và chống nhiễm mặn.

Tổ chức quản lý, phân định, cắm mốc, giao đất, phát triển rừng trên cơ sở quy hoạch phát triển rừng và qui hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được duyệt. Tăng cường công tác quản lý giống lâm nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển rừng sản xuất bằng giống có chất lượng để tăng năng suất và giá trị rừng trồng; khuyến khích phát triển cây dược liệu, mây dưới tán rừng; đẩy mạnh thực hiện cơ chế khuyến khích phát triển Sâm Ngọc Linh, các cây dược liệu quý, cây quế.

Đối với ngành công nghiệp:Tiếp tục tăng cường đầu tư vào hạ tầng các khu, cụm công nghiệp và làng nghề, trong đó trọng tâm là07 Khu công nghiệp đang triển khai, đồng thời xem xét nâng cấp, mở rộng một số khu, cụm công nghiệp. Áp dụng công nghệ hiện đại để tăng năng suất và giá trị cho từng sản phẩm công nghiệp. Bên cạnh đó đảm bảo việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực từ các hoạt động công nghiệp ảnh hưởng đến môi trường.

Trên cơ sở yêu cầu phát triển tỉnh công nghiệp; căn cứ Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến 2025, tầm nhìn đến 2035; trong năm 2016 và giai đoạn tiếp theo tập trung phát triển 3 nhóm ngành công nghiệp: Chế biến, chế tạo; Điện tử và Viễn thông; Năng lượng mới và năng lượng tái tạo.

Đối với ngành chế biến chế tạo, đây là ngành công nghiệp có tỷ lệ hơn 80% trong giá trị sản xuất toàn ngành của tỉnh. Tập trung phát triển các nhóm ngành chủ lực có lợi thế như: Sản xuất và lắp ráp ô tô; dệt may - da giày; chế biến nông - lâm - thủy sản, thực phẩm, thức uống; sản xuất linh kiện nhựa. Ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo và công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành công nghiệp chủ lực. Thu hút và phát triển các dự án công nghệ cao như khí điện.

Đối với ngành Điện tử và Viễn thông, phát triển chíp điện tử, máy tính, điện thoại và linh kiện; thúc đẩy phát triển công nghiệp phần mềm, nội dung số, dịch vụ công nghệ thông tin và điện tử. Đối với ngành năng lượng và năng lượng tái tạo, xây dựng, phát triển và duy trì các thủy điện theo qui hoạch.

Chuyển dịch nội bộ ngành công nghiệp nhằm giảm tỷ trọng ngành gia công, chế biến sử dụng đầu vào nhập khẩu, có giá trị gia tăng thấp. Tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao thông qua lựa chọn, thu hút các dự án FDI. Hạn chế phát triển các ngành khai thác, giảm tỷ trọng sử dụng nhiều yếu tố đầu vào tài nguyên.

Tập trung phát triển dịch vụ du lịch, trong đó đẩy mạnh phát triển du lịch phía Tây và phía Nam của tỉnh, phát triển du lịch cộng đồng.

Đối với ngành dịch vụ: Phát triển đa dạng các loại hình du lịch, đặc biệttổ chức quản lý phát huy các tour du lịch đến thăm viếng Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, liên kết với các tour du lịch khu vực ven biển phía nam, biển Tam Thanh, biển Rạng và Hồ Phú Ninh; thu hút các dự án du lịch cao cấp khu vực ven biển. Sớm bàn giao mặt bằng, thúc đẩy tiến độ dự án du lịch Nam Hội An, dự án của Công ty CP Thiên đường Cổ Cò, khu du lịch sinh quyển Cù Lao Chàm.Chú ý phát triển du lịch văn hóa và sinh thái mà trung tâm lan tỏa là hai di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn và Hội An;. Kết nối phát triển du lịch với phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và khu vực nông thôn. Chú trọng công tác bảo vệ môi trường du lịch.

Tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch, đặc biệt là tại các khu du lịch, điểm du lịch ven biển thuộc Hội An, Điện Bàn, Tam Kỳ, Núi Thành. Lồng ghép các chương trình tôn tạo, bảo vệ và phát huy các di sản, di tích; khôi phục, phát triển các làng nghề và bảo vệ môi trường. Phát triển dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ vận tải, viễn thông, công nghệ thông tin. Đẩy mạnh các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong và ngoài nước.

2. Về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh

Rà soát, đánh giá, giải quyết dứt điểm các cơ chế ưu đãi đầu tư vượt trội từ 31/12/2005 trở về trước. Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn theo Nghị định 210; khuyến khích xã hội hóa đầu tư vào các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, dạy nghề, thể thao và môi trường theo Nghị định 59 của Chính phủ.Ưu tiên nguồn vốn tín dụng và lãi suất cho các doanh nghiệp, nhất là đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.Hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh.Thực hiện tốt công tác bồi thường thiệt hại, tái định cư, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, giao đất cho các nhà đầu tư để thực hiện triển khai dự án.

Tổ chức gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh.Cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ đào tạo lao động, tiếp cận và ổn định trong sử dụng đất đai, vì đây là những chỉ số thành phần thuộc bộ chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh qua các năm còn thấp.

Chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường xuất khẩu nhất là đối với một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như: hàng dệt may, giày dép, vận tải và phụ tùng, sản phẩm sắt thép, linh kiện điện tử, thủy sản, sản phẩm gỗ, nguyên liệu giấy, hàng nông sản. Chú trọng thị trường nội địa, hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm, hàng tồn kho, phát triển hàng hóa về nông thôn.

Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh. Năm 2016, phấn đấu nâng số doanh nghiệp đang hoạt động lên 4.800 doanh nghiệp; phát triển kinh tế hợp tác lên 183 hợp tác xã với nhiều hình thức đa dạng. Triển khai phương án chuyển đổi mô hình hợp tác xã thích ứng với yêu cầu mới, cung cấp các dịch vụ cho kinh tế hộ phát triển.

3. Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ; cải thiện môi trường đầu tư và phát triển nguồn nhân lực

Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ đến năm 2020 theo Nghị quyết của Tỉnh ủy, trọng tâm là phát triển mạng lưới giao thông, kết cấu hạ tầng trọng điểm, chiến lược. Tăng cường liên kết giao thông giữa các vùng trong tỉnh, giữa đô thị và nông thôn.

Huy động các nguồn lực, đảm bảo tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm khoảng 31% tổng sản phẩm trong tỉnh; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; kiểm soát nợ xây dựng cơ bản.

Trong năm 2016 mở rộng, xây mới một số tuyến đường trọng điểm, thúc đẩy phát triển liên kết vùng, đặc biệt làcác tuyến giao thông chính giữa đường cao tốc với quốc lộ và tỉnh lộ, giữa các tuyến đường huyện (ĐH) và đường tỉnh (ĐT); liên kết các tuyến ven biển, các tuyến đường đến vùng phát triển Sâm Ngọc Linh. Đẩy nhanhtiến độcác dự án quan trọng của tỉnh nhưCầu Giao Thủy; nâng cấp đường Thanh niên ven biển; ĐT 609; ĐT 614; ĐT 611B nối dài; hạ tầng khu công nghiệp Tam Thăng.Tiếp tục thúc đẩy tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng dự án Đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, đoạn qua Quảng Nam;Xây dựng và thực hiện đề án nâng cấp mặt đường các tuyến ĐH, phát triển giao thông nông thôn.

Ưu tiên tăng nguồn vốn đầu tư phát triển ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Chú trọng phát triển các ngành kinh tế biển, đặc biệt là hậu cần thủy sản, khai thác khí và sản phẩm sau khí; xây dựng, cải tạo các công trình thủy lợi, âu thuyền, đê biển, kè sông, cảng cá, hạ tầng thủy sản quan trọng phục vụ sản xuất, chủ động phòng chống và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Từng bước giải quyết một phần tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh cho lao động tại các khu công nghiệp trong Khu Kinh tế mở Chu Lai, Điện Nam - Điện Ngọc.

Phát triển hạ tầng đô thị. Chú ý xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế phát triển đô thị loại 2 và thị xã. Ưu tiên cải tạo, nâng cấp các trục đường chính ra vào đô thị, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ bằng các chương trình, dự án ODA.

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư nhằm huy động các nguồn lực, nâng cao chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh.

Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính là cơ sở để cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư. Rà soát, thu hồi giấy phép các dự án đầu tư không triển khai đúng tiến độ theo cam kết để giao đất cho các nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư thực sự. Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư để giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư thực hiện dự án, cũng như xây dựng các công trình. Đảm bảo giao mặt bằng đúng thời gian theo cam kết với nhà đầu tư: Dự án du lịch Nam Hội An, dự án Panko tại khu công nghiệp Tam Thăng, dự án Khu liên hợp Sợi - Nhuộm - Dệt - May Đông Quế Sơn, dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, đoạn qua Quảng Nam.

Nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền nhằm quảng bá sâu rộng môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.

Tiếp tục củng cố và kiện toàn Trung tâm phát triển quỹ đất Quảng Nam để góp phần giải quyết kịp thời, đảm bảo tiến độ bồi thường, GPMB của các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo thêm việc làm mới, chuyển dịch cơ cấu lao động.

Coi trọng công tác giáo dục - đào tạo, kịp thời phát hiện bồi dưỡng tài năng trẻ trong đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước và quản lý kỹ thuật.Xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ có khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học quản lý, công nghệ mới, dự báo, tiếp cận thị trường để chủ động hội nhập. Quy hoạch, kiểm soát chặt chẽ các cơ sở đào tạo để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo.

Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại, đồng bộ phù hợp với yêu cầu của hội nhập và phát triển. Thực hiện đồng bộ các đề án về xác định vị trí làm việc; đào tạo, luân chuyển cán bộ; đào tạo nghề; phát triển nguồn nhân lực theo các đề án đã ban hành. Nghiên cứu thu hút, tuyển dụng, đào tạo nhân tài, đặc biệt, cần phải xác định đúng những ngành, nghề tỉnh đang cần, đang thiếu, để có chế độ đãi ngộ phù hợp.

          Tiếp tục triển khai có hiệu quả Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 và Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Nâng cao tỷ lệ và chất lượng lao động qua đào tạo. Chủ động đào tạo cung cấp lao động có tay nghề, trình độ cho các khu công nghiệp. Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách đối với người lao động, an toàn lao động, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Nâng cao tính chuyên nghiệp và trình độ tay nghề của người lao động. Khuyến khích khu vực tư nhân, doanh nghiệp tham gia dạy nghề thông qua các ưu đãi về thuế, hỗ trợ hạ tầng và các điều kiện thiết yếu. Đổi mới và hiện đại hóa hoạt động các trung tâm giới thiệu việc làm.

Nâng cao chất lượng dạy nghề,liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, tổ chức dạy nghề và tiếp nhận sử dụng người lao động sau khi hoàn thành các khoá học nghề. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, xem đây là động lực nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Tăng cường công tác khuyến công, khuyến nông; đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học - kỹ thuật, phát triển các làng nghề truyền thống. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo nghề. Xây dựng cơ chế hỗ trợ đổi mới công nghệ ở các cơ sở sản xuất kinh doanh.

4. Về huy động nguồn lực và bố trí nguồn vốn cho đầu tư phát triển

Đa dạng hóa các hình thức huy động và tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Huy động tối đa nguồn lực của tỉnh và thu hút vốn trong nước, đặc biệt là của các tập đoàn doanh doanh nghiệp lớn; đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp, trọng tâm là hợp tác công tư.

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu tập trung cho phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ về giao thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, môi trường, y tế, giáo dục và các lĩnh vực trọng yếu. Bố trí nguồn kinh phí hợp lý để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp chế biến, sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đào tạo lao động, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường sinh thái. Tranh thủ tối đa thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA, xác định danh mục dự án cần sử dụng nguồn vốn này theo thứ tự ưu tiên để bố trí kế hoạch trung hạn, dài hạn, đồng thời ưu tiên ngân sách, đảm bảo đối ứng kịp thời, đầy đủ theo cam kết. Đối với những dự án trọng điểm, mang tính đột phá, có sức lan tỏa cao và bền vững, cần tập trung đầu tư dứt điểm để đưa vào sử dụng tạo động lực thúc đẩy phát triển.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc kê khai nộp thuế; đồng thời xây dựng dự toán thu sát với thực tế, nhất là thu tiền sử dụng đất, thu phát sinh kinh tế, thu thuế xuất nhập khẩu để chủ động trong phân bổ và tổ chức thực hiện. Kiên quyết thu hồi các khoản nợ tạm ứng, nợ thuế.

Dự kiến tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2016 hơn 21.400 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2015. Trong đó kế hoạch đầu tư năm 2016 được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 và Luật Đầu tư công,Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2015 về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016, Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2015 về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư công.

Về bố trí vốn đầu tư công năm 2016 ưu tiên theo thứ tự: (1) bố trí vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản và hoàn ứng, (2) các dự án dự kiến hòan thành trong năm 2016, (3) đối ứng cho các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà đầu tư nước ngoài, (4) thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư (PPP), (5) bố trí cho các dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt, (6) số vốn còn lại mới bố trí cho các dự án mới thật sự cấp bách và đáp ứng đủ các điều kiện: Thuộc danh mục dự án khởi công mới trongkế hoạch trung hạn 2016-2020; xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối;phê duyệt chủ trương đầu tư trước ngày 31/10/2015. Trong đó, ưu tiên bố trí nguồn vốn đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành các dự án trọng điểm của tỉnh; nhiệm vụ quốc phòng an ninh; hỗ trợ ngư dân đánh bắt và các dịch vụ trên biển; các nhiệm vụ về tạo việc làm, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

5. Về phát triển các lĩnh vực xã hội, đảm bảo an sinh xã hội gắn với giảm nghèo bền vững

Triển khai chương trình hành động của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế giai đoạn 2015-2020.Tiếp tục phát triển đồng bộ hệ thống giáo dục-đào tạo, cân đối cơ cấu và quy mô, đa dạng hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời của nhân dân, hướng tới “xã hội học tập”. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các bậc học, đặc biệt là ở khu vực miền núi; nâng cấp trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh thành trường chất lượng cao cho học sinh là con em dân tộc thiểu số. Tập trung đầu tư trường chuẩn; nâng cao chất lượng các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp trên địa bàn.

Thực hiện tốt Nghị Quyết 05/NQ-CP ngày 13/01/2014 của Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế. Tiếp tục chương trình đầu tư nâng cấp các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, trạm y tế các xã; thu hút bác sỹ, đồng thời đãi ngộ, hỗ trợ kịp thời các chế độ theo đề án, phục vụ công tác khám chữa bệnh, tăng tỷ lệ bác sỹ/vạn dân. Chú trọng thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em và các trường hợp chính sách xã hội khác.

Thực hiện Nghị quyết số 46/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phát triển khoa học và công nghệ; Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 và các chương trình quốc gia về khoa học và công nghệ và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, xác lập, bảo vệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Đẩy mạnh chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ trong phát triển sản xuất, nhất là sản xuất, chế biến, bảo quản các sản phẩm nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chú trọng áp dụng công nghệ trong phát triển giống lúa lai, sâm Ngọc Linh và các cây hương liệu, dược liệu trên địa bàn tỉnh.

Đẩy mạnh phát triển phong trào thể dục thể thao, đặc biệt là trong trường học;tập trung phổ cập một số môn thể thao mà tỉnh có lợi thế về tiềm năng địa lý như bơi lội, bóng chuyền bãi biển. Chú trọng các môn thể thao tỉnh có thế mạnh. Phấn đấu đạt thứ hạng cao trong các giải đấu quốc gia, khu vực và quốc tế. Khuyến khích đầu tư  phát triển trung tâm thể dục, thể thao tư nhân.

Thực hiện đồng bộ, toàn diện và hiệu quả các Chương trình, dự án giảm nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các chính sách về trợ giúp đất đai, tín dụng, dạy nghề, tạo việc làm, khuyến công, khuyến nông – lâm – ngư nghiệp và tiêu thụ sản phẩm.Tập trung hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống.Trong đó, chú trọng các chính sách tạo điều kiện cho vay phát triển sản xuất đối với những hộ đã thoát nghèo theo Nghị quyết 119 của HĐND tỉnh nhưng không đủ điều kiện để tiếp tục vay vốn từ các chương trình tín dụng của Trung ương.Phấn đấu năm 2016 giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2-2,5% (theo chuẩn mới).

Thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ ưu đãi người có công cách mạng, thanh niên xung phong, trợ cấp, bảo hiểm xã hội. Đẩy nhanh việc giải quyết các trường hợp tồn đọng về công nhận người có công và các trường hợp công nhận mới. Tu bổ nghĩa trang, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; tiếp tục đề xuất các giải pháp giải quyết nhà ở đối với các hộ người có công, tổ chức xây dựng nhà ở cho hộ nghèo theo Đề án hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng chống bão, lụt trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện tốt Đề án phát triển nghề công tác xã hội; kế hoạch phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí theo Quyết định số 1215/2011/QĐ-TTg, ngày 22/7/2011 của Thủ tướng chính phủ về  chính sách đối với người cao tuổi, người khuyết tật và các chính sách trợ cấp xã hội khác.

6. Phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi; xây dựng nông thôn mới

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 55/2012/NQ-HĐND ngày 19/9/2012 của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế xã hội miền núi của tỉnh. Rà soát, quy hoạch 3 loại rừng, tổ chức quản lý, giao đất rừng, phát triển rừng theo hướng phát triển trồng rừng sản xuất, đáp ứng nhu cầu gỗ cho chế biến, xuất khẩu, tiêu dùng và phát triển kinh tế hộ. Đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì tổ chức tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển. Tổ chức xây dựng quy hoạch, quản lý thực hiện phát triển đồng bộ vùng Sâm Ngọc Linh.

Tiếp tục hỗ trợ đầu tư theo các Nghị Quyết của HĐND tỉnh về cơ chế phát triển nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, nhà ở cho người thu nhập thấp; phát triển giao thông nông thôn; kiên cố hóa mặt đường các tuyến ĐH.

Triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu, chương trình hỗ trợ theo mục tiêu, chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, miền núi, nhất là tại các xã đặc biệt khó khăn, các huyện nghèo theo Nghị Quyết 30a/NQ-CP và chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh. Lồng ghép hỗ trợ đầu tư điện, nước sạch các xã vùng cao, vùng khó khăn.

Tăng cường hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đến tận cơ sở. Thực hiện đồng bộ các biện pháp cấp bách về phòng, chống dịch cúm gia cầm, gia súc, phấn đấu khôngđể tái phát dịch. Tiếp tục rà soát, tổ chức lại các cơ sở chăn nuôi, giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tập trung gắn với kiểm soát chặt chẽ thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tiếp tục thựchiệncóhiệuquảviệclồngghépcác nguồn vốn để thực hiện Chươngtrìnhmụctiêuquốcgia vềxâydựngnôngthônmới.Tăng cường đầu tư, hỗ trợ các xã còn thấp điểm để sớm đạt chuẩn nông thôn mới. Đối với những xã đã đạt chuẩn nông thôn mới cần duy trì và giữ vững chất lượng, tránh để bị tụt hạng do giảm điểm ở các tiêu chí cần phát huy nội lực của cộng đồng, thiếu tính bền vững như: Các tiêu chí về an ninh trật tự, văn hóa, môi trường,...Hạn chế việc huy động quá mức đóng góp của nhân dân. Năm 2016 phấn đấu tăng từ 3-4% xã đạt chuẩn, nâng tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên gần 30%.

7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí; giải quyết kịp thời các khiếu nại của công dân

Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cánh hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, phấn đấu nâng cao chỉ số cải cách hành chính của tỉnh. Thực hiện đơn giải hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động các cơ quan nhà nước gắn với đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính; công khai minh bạch trong công tác quản lý nhà nước.

Tổ chức thực hiện đề án tinh giản biên chế, đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ; xác định vị trí việc làm làm cơ sở để tinh giản biên chế; thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp. Thực hiện tốt cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị 22/CT-UBND ngày 12/10/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc tại các cơ quan, đơn vị.

Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết ngay từ cơ sở, hạn chế khiếu kiện, khiếu nại đông người. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí.Thực hiện nghiêm các kết luận thanh tra và việc xử lý sau thanh tra.Phấn đấu giải quyết đạt trên 90% đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, trong đó chú trọng công tác tổ chức đối thoại với công dân trước khi ban hành quyết định giải quyết.

8. Về tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững

Đẩy mạnh việc rà soát, quản lý cấp phép khai thác đối với nguyên xây dựng thông thường phục vụ các dự án. Xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái phép, nhất là khai thác gỗ và đào đãi vàng trái phép.

Thực hiện có hiệu quả kế hoạch hànhđộngứng phó biếnđổi khí hậu. Trong đó chủ động khảo sát, lựa chọn các giải pháp kỹ thuật để lập dự án kè chống sạt lở bờ biển Hội An và khu vực ven sông, ven biển có nguy cơ sạt lở. Tiếp tục thực hiện chương trình trọngđiểm trong chiến lược bảo vệ môi trường, đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giảm nghèo cải thiện chất lượng cuộc sống.

Gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm phát triển bền vững. Đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và các chương trình dự án đầu tư.

Tập trung giải quyết tốt vấn đề môi trường ở các khu, cụm công nghiệp; nhất là ở một số nhà máy sản xuất qui mô lớn, tiến tới xây dựng các nhà máy xử lý nước chung tại tất cả các khu công nghiệp trên địa bàn; Phấn đấu trong năm 2016 xúc tiến xây dựng hoàn thành nhà máy xử lý nước thải tại khu công nghiệp Đông Quế Sơn, Tam Hiệp và Tam Thăng;chú trọng xử lý chất thải nguy hại, chất thải y tế; giải quyết vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ; ứng phó và khắc phục hiệu quả các sự cố môi trường.

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản, bảo đảm nguồn khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiết kiệm. Tăng cường chế biến sâu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường biển, vùng ven biển, đảo; bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là rừng nguyên sinh, rừngđặc dụng; bảo vệ và phát huy khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm. Thực hiện nghiêm các qui định về bảo vệ các giống loàiđộng thực vật quí hiếm.

9. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trật tự an toàn xã hội

Thực hiện đồng bộ, quyết liệt, tăng cường thực thi pháp luật trên biển, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Hỗ trợ ngư dân về vốn đóng mới tàu vỏ sắt công suất lớn, hỗ trợ bảo hiểm và các dịch vụ trên biển để ngư dân an tâm ra khơi khai thác, đánh bắt gắn với bảo vệ chủ quyền. Phát huy tinh thần yêu nước và sức mạnh của toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền. Đồng thời, dự báo, nắm chắc tình hình, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tình hình kích động, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn tính mạng, tài sản, điều kiện sản xuất kinh doanh bình thường của cá nhân, tổ chức, nhất là các doanh nghiệp FDI.

Thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; tăng cường mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt, xây dựng “biên giới mẫu mực” giữa hai tỉnh Quảng Nam – Sê Koong.

Quản lý chặt chẽ vàđẩy nhanh tiếnđộ các dựán về quản lý biên giới; các dựán thuộc chương trình BiểnĐông - Hảiđảo. Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế xã hội, xóađói giảm nghèo, nhất làởđịa bàn trọngđiểm, vùng biên giới, vùng an toàn khu theo Quyết định 229 của Thủ tướng Chính phủ.

Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng toàn dân, thực hiện có hiệu quả công tác nắm tình hình sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức giao quân đúng kế hoạch, đủ chỉ tiêu. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, tổ chức huấn luyện, diễn tập theo kế hoạch.

Tổ chức thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tội phạm ma túy, mua bán người. Kiên quyết triệt phá các băng nhóm tội phạm. Bảo đảm an toàn giao thông đường bộ, phấn đấu giảm tỷ lệ tai nạn giao thông.



[1] Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng cả nước năm 2015 tăng khoảng 1,5-2,5%

[2] Bình quân 11 tháng năm 2015 CPI tăng 0,65% so cùng kỳ.Năm 2014 CPI tăng 4,2%; năm 2013 tăng 6,7%; 2012 tăng 10,1%; 2011 tăng 15,2%

[3] Lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6-8%/năm đối với ngắn hạn, 9-11%/năm đối với trung dài hạn

[4]Tổng vốn huy động hơn 25.130 tỷ đồng, tăng 21,6% so với đầu năm.Tín dụng tăng trưởng hơn 20% (Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2015 của các TCTD trên địa bàn tỉnh 18,48%). Cả nước dự kiến tăng 17%.

[5] Cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm gần 32%, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 18%, cho vay chính sách chiếm gần 11% tổng dư nợ

[6] Dự kiến thu ngân sách nhà nước năm 2015 hơn 12.800 tỷ đồng, tăng hơn 40,6% so với dự toán ( 9.100 tỷ đồng)

[7] Dự kiến thu xuất nhập khẩu năm 2015 hơn 4.400 tỷ đồng

[8] Dự kiến bù hụt thu năm 2015 cho 2 huyện Phước Sơn và Phú Ninh gần 90 tỷ đồng

[9] Năm 2014, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt hơn 16.600 tỷ đồng,  chiếm hơn 32% GRDP

[10] Đến cuối tháng 10/2015, đã cấp phép mới 59dự án đầu tư trong nước. Đã có 734 doanh nghiệp trong nước đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký gần 3.500 tỷ đồng; 89 doanh nghiệp gửi thông báo tạm ngừng hoạt động, 90 doanh nghiệp đăng ký giải thể, thu hồi hơn 411 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. So cùng kỳ năm 2014, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 27,7%, số doanh nghiệp ngừng hoạt động giảm 20,5%, số doanh nghiệp giải thể giảm 10%.

[11] Thu từ khu vực FDI 11 tháng 424 tỷ đồng, bằng 71,4% dự toán.

[12] Theo phương pháp mới, Tổng cục Thống kê công bố tốc độ tăng GRDP năm 2015 của tỉnh là 18,76%. Tuy nhiên qua rà soát, tính toán lại số liệu Cục Thống kê Quảng Nam dự kiến tốc độ tăng GRDP của tỉnh năm 2015 khoảng hơn 9%.

[13]Theo công bố của Tổng cục Thống kê (theo phương pháp mới), tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp chiếm gần 83%, nông lâm thủy sản hơn 17%.

[14] Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê (phương pháp mới) giá trị sản công nghiệp năm 2015 gần 54 nghìn tỷ đồng

[15] Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng ngành sản xuất xe có động cơ tăng 84,8%;sản xuất giường, tủ bàn ghế tăng 3 lần; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính tăng 48,5%

[16] 11 tháng đầu năm 2015, chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 53,3% so với cùng kỳ

[17]Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê (phương pháp mới) giá trị sản xuất các ngành dịch vụ năm 2015 tăng 8,4%.

[18]Kế hoạch năm 2015 tốc độ tăng xuất khẩu của tỉnh là 16%.

[19]Giầy da giảm 15%, gạo giảm 80%, quặng và khoáng sản giảm gần 48%.

[20] Linh kiện điện tăng 53%; hàng dệt may tăng 31%.

[21] Doanh thu hoạt động du lịch năm 2015 hơn 2.570 tỷ đồng, tăng gần 16% so với năm trước

[22]Kế hoạh năm 2015 giá trị sản xuấtkhu vực nông lâm thủy sản tăng hơn 4%

[23]Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng từ4-4,5% so với năm 2014

[24] Đến năm 2015, trên địa bàn tỉnh có 105 trang trại; 894 gia trại, tăng 185 gia trại so với năm 2014

[25] Đến 31/12/2014 tổng nợ đọng xây dựng cơ bản hơn 3.017 tỷ đồng, bố trí kế hoạch năm 2015 để thanh toán 1.322 tỷ đồng. Số nợ đọng còn lại gần 1.700 tỷ đồng (số liệu mới rà soát đến tháng 10/2015)

[26] Theo số liệu dự kiến của Cục Thống kê tỉnh

[27] Kế hoạch năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%. Cả nước tỷ lệ lao động qua đào tạo 51,6%

[28] Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh  năm  2014 đạt 59,97 điểm (loại khá), xếp thứ 14 cả nước

[29] Cấp tỉnh tổ chức 16 giải; các sở, ban ngành tổ chức 35 giải; các địa phương tổ chức 163 giải

[30] Gồm: 106 trường mầm non, đạt tỷ lệ 44%; 185 trường tiểu học, đạt tỷ lệ 68%; 108 trường trung học cơ sở, đạt tỷ lệ 50,4% và 12 trường trung học phổ thông, đạt tỷ lệ 22,2%.

[31] Trung cấp nghề hơn 1.000 người; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng hơn 28.800 người

[32] Kế hoạch năm 2015 giải quyết việc làm cho 41.000 lao động, đưa 300 lao động đi làm việc ở nước ngoài.

[33] Toàn tỉnh có có 12.280 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó có 2.562 Mẹ được phong tặng; hiện còn sống 1.084 Mẹ. Đã có 978 Mẹ được các cơ quan đơn vị trong và ngoài tỉnh nhận phụng dưỡng.

[34]Trước khi có Nghị quyết 119, mỗi năm có từ 2.000 đến 2.500 hộ thoát nghèo bền vững. Khi có Nghị quyết hộ thoát nghèo bền vững tăng lên trên 5.200 hộ

[35] Gồm Chương trình 30a gần 156 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển 114 tỷ đồng, Chương trình 135 hơn 125 tỷ đồng

[36]Bình quân chung, đến tháng 10/2015, tiêu chí đạt của 204 xã là 11,14tiêu chí/xã, tăng  hơn 8,53 tiêu chí/xã so với năm 2010; bình quân chung của cả nước 10,5 tiêu chí/xã.

[37] NQ HĐND tỉnh về phát triển GTNT 2010-2015: bê tông hóa 1.477 km

[38] Năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 9%, tỷ lệ hộ cận nghèo dưới 7%

[39] Hiện có 133 HTX NN; 15 HTX công nghiệp-TTCN; 11 HTX GTVT;01 HTX Xây dựng; 01 HTX Thương mại; 03 Quỹ tín dụng nhân dân; 06 HTX Dịch vụ tổng hợp.

[40] Huyện Nam Trà My chưa có

[41] Công ty giày Rieker chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, giảm  17,5%; Công ty Groz-Beckert chiếm 4,3%, giảm gần 12%; Công ty cổ phần Phước Kỳ Nam giảm 10,6%; Công ty TNHH Việt Hương 2 giảm 56,6%...

[42]Giai đoạn 2011-2015 thực hiện theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

[43] Theo phương pháp mới

[44]Dự kiến thu nội địa năm 2015 là 8.000 tỷ đồng; năm 2016 dự toán 8.795 tỷ đồng

[45] Theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2016-2020

[46]Theo Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT ngày 03/7/2007 và Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT ngày 08/5/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỉnh Quảng Nam có 25 cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Đến năm 2015 đã xử lý và đưa ra khỏi danh sách 19 cơ sở, còn lại 06 cơ sở chưa được xử lý. Kế hoạch năm 2016 tiếp tục xử lý 03/06 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, chiếm tỷ lệ 50%

[47] Theo số liệu dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 của Sở Tài chính

Tác giả: Trần Văn Hậu

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Đăng nhập

Người phát ngôn thông tin báo chí

Họ tên: Văn Anh Tuấn
Chức vụ: Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Số điện thoại: 0903589323
Email: vananhtuanqn@gmail.com








Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
Địa chỉ: 62 Hùng Vương, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT: 02353.852739. Fax: 02353.852748. Email: vpubnd@quangnam.gov.vn
Trưởng Ban điều hành: ông Văn Anh Tuấn, Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Ghi rõ nguồn "Văn phòng Ủy ban tỉnh Quảng Nam" khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này

Tổng số lượt truy cập
Design by QTI