Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Tình hình KTXH năm 2013; Kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015 và nhiệm vụ kế hoạch năm 2014

Lượt xem: 5025

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2013

KẾT QUẢ 3 NĂM THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM 2011-2015

Trong 3 năm qua, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp. Trong nước, việc thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát là cần thiết nhưng hệ quả là kinh tế tăng trưởng chậm lại, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại nặng nề. Nhu cầu về đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện môi trường, đảm bảo quốc phòng và an ninh ngày đòi hỏi càng cao, trong khi nguồn lực của tỉnh còn hạn hẹp.

Trước bối cảnh trên, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã kịp thời ban hành những Nghị Quyết về kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm. UBND tỉnh đã quản lý, điều hành quyết liệt các giải pháp của Trung ương, của tỉnh phù hợp với tình hình thực tế, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá.

Nhờ sự nỗ lực phấn đấu của các cấp chính quyền, của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế xã hội đã có chuyển biến tích cực. Xin báo cáo tình hình năm 2013 và 3 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 trên một số các nội dung chủ yếu sau:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Thực hiện tốt mục tiêu ổn định phát triển kinh tế, góp phần kiềm chế lạm phát

Cùng với cả nước, lạm phát bước đầu đã được kiểm soát. Tốc độ tăng gía tiêu dùng giảm từ 16% năm 2011 xuống 9,6% năm 2012 và dự kiến khoảng 7% năm 2013. Mức độ tăng giá tiêu dùng của tỉnh qua các năm ở bình quân chung của cả nước, góp phần thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát[1]

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay giảm mạnh. Lãi suất đã trở về giai đoạn năm 2005-2006. Lãi xuất cho vay lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 7 - 9%/năm; các lĩnh vực khác ở mức 9 - 11,5%/năm. Một số doanh nghiệp tình hình tài chính lành mạnh được vay với lãi suất 6,5 – 7%/năm. Khắc phục tình trạng sử dụng ngoại tệ, vàng để làm phương tiện thanh toán ở trong nước.

Xuất khẩu năm 2013 vượt kế hoạch đề ra[2], tăng 22,3%. Tổng giá trị xuất khẩu 3 năm 2011-2013 thực hiện hơn 1,5 tỷ USD, tăng bình quân trên 32%; tốc độ tăng này cao hơn nhiều so với chỉ tiêu đề ra cho cả thời kỳ 5 năm 2011 - 2015[3]. Nhập khẩu năm 2012 giảm 29%, nhưng năm 2013 đã tăng trở lại, trên 13%, với giá trị hơn 650 triệu USD, đây là dấu hiệu tích cực cho tình hình sản xuất kinh doanh trong thời gian đến[4].

Huy động tiền gửi tăng hơn 14,5%[5]; tăng trưởng tín dụng giảm 0,4% so với cùng kỳ. Đây là những tỷ lệ tăng thấp nhất trong 3 năm qua[6], đồng thời tăng trưởng tín dụng thấp hơn nhiều so với mục tiêu chung của Chính phủ[7]. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng thấp là các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã rà soát, tăng cường công tác thẩm định hồ sơ dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng tín dụng, giảm lãi suất cho vay đối với một số nhóm khách hàng có chất lượng tín dụng và tài sản đảm bảo tốt. Đã thẩm định cho vay  44.260 trường hợp, đồng thời loại trừ 755 hồ sơ vi phạm nguyên tắc cho vay. Bên cạnh đó một số doanh nghiệp lớn đã giảm vay ngân hàng. Nợ xấu tuy đã giảm hơn 21% so với cùng kỳ, nhưng vẫn còn cao với tỷ lệ hơn 5% trên tổng dư nợ[8].

Tăng cường quản lý ngân sách, chống thất thu và tiết kiệm chi. Mặt dù trong điều kiện khó khăn chung, năm 2012 hụt thu ngân sách hơn 900 tỷ đồng nhưng giai đoạn 2011-2013 đã cố gắng cân đối theo dự toán. Bình quân 3 năm 2011-2013, tốc độ tăng thu nội địa hơn 17%/năm. Trong đó, năm 2013 thu nội địa 4.478 tỷ đồng, đảm bảo theo dự toán được giao.

Môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện. Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 14.922 tỷ đồng, chiếm hơn 33% so với GRDP của tỉnh, tỷ lệ này có cao hơn bình quân chung cả nước[9]. Qua 3 năm 2011-2013, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng bình quân hơn 9%/năm, tốc độ này thấp hơn nhiều so với bình quân giai đoạn 5 năm trước (2006-2010)[10] và thấp hơn chỉ tiêu đề ra[11]. Qua 3 năm 2011-2013 tổng vốn đầu tư toàn xã hội hơn 41.450 tỷ đồng, chiếm khoảng 46% tổng nhu cầu vốn cần huy động cho cả thời kỳ (2011-2015)[12]. Tỷ lệ bình quân vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GRDP chiếm gần 36%, tuy nhiên tỷ lệ này giảm dần qua các năm[13]. Nguồn vốn đầu tư nhà nước chiếm hơn 70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng bình quân 9,2%. Nguồn vốn này tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng công; phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi và giảm nghèo. Nguồn vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ gần 23%

Bên cạnh nguồn vốn trong nước, 03 năm qua việc thu hút nguồn vốn từ các chương trình ODA, FDI, NGO được chú trọng và đạt nhiều kết quả. Hiện trên địa bàn tỉnh có 24 chương trình dự án thuộc nguồn vốn ODA đang triển khai thực hiện, tập trung ở các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội và giảm nghèo; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua 3 năm ước thực hiện 2.900 tỷ đồng, chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tập trung chủ yếu lĩnh vực dịch vụ du lịch và công nghiệp. Các dự án NGO tuy nguồn vốn đầu tư không lớn, nhưng quan trọng là đã nâng cao được năng lực trong cộng đồng.

2. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và sản xuất kinh doanh vẫn duy trì phát triển ổn định.

Toàn tỉnh có hơn 4.400 doanh nghiệp; trong đó số doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động chiếm tỷ lệ  92%. Riêng năm 2013 đã có 600 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 25% so cùng kỳ, bên cạnh đó, có 200 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể.   

Tăng trưởng kinh tế (gía năm 2010) năm 2013 là 11,15%, thấp hơn kế hoạch đề ra[14]. Bình quân qua 3 năm (2011-2013) là 11,75%. Tuy chưa đạt mức tăng trưởng bình quân chung giai đoạn 2011-2015 theo chỉ tiêu đề ra[15], nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, thì tốc độ tăng trưởng này thể hiện sự nổ lực phấn đấu rất lớn của toàn tỉnh.

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 22,4% năm 2010 xuống còn khoảng 17,2%, công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng từ 78,6% lên khoảng trên 82,8% năm 2013[16].

Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp (giá 2010) tăng 19,7%[17]. Bình quân 3 năm tăng gần 22%[18]. Một số các sản phẩm tiếp tục duy trì và phát triển như ô tô bus, linh kiện điện tử, giầy da, may mặc; một số các sản phẩm mới tiếp tục xuất hiện như soda, xi măng, ... đóng góp tích cực vào phát triển công nghiệp của tỉnh. Bên cạnh đó, do gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ, nên một số các sản phẩm có qui mô giảm hơn so với năm đầu nhiệm kỳ như ô tô con, gạch men.

Dịch vụ phát triển khá. Giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ tăng bình quân hơn 16%/năm[19]. Khách tham quan và lưu trú tăng nhanh,  năm 2013 ước hơn 3,8 triệu lượt, tăng bình quân 17%/năm. Năng lực mới tăng thêm phát triển khá, đủ các điều kiện để tổ chức các sự kiện khu vực và quốc tế. Thị trường du lịch từng bước được mở  rộng. Thu nhập từ du lịch tăng bình quân khoảng 21%/ năm, góp phần tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động.

 Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục duy trì và phát triển ổn định, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân hơn 4%/năm[20], riêng năm 2013 tăng tăng 1,83%[21]. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông. Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả hơn nhờ các giải pháp cải thiện sinh kế của cư dân sống dựa vào rừng. Việc dồn điền đổi thửa gắn với xây dựng giao thông, thủy lợi nội đồng, cơ giới hóa đã có tác dụng tăng năng suất lao động nông nghiệp. Diện tích trồng cây cao su phát triển nhanh với gần 15.000 ha, sản lượng 4.000 tấn mủ khô. Nhiều địa phương đã hình thành các vùng sản xuất lúa giống, cánh đồng mẫu lớn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng hiệu quả góp phần tích cực nâng cao giá trị trong sản xuất nông nghiệp.

3. Thực hiện tái cơ cấu đạt một số kết quả bước đầu.

Đối với đầu tư, trọng tâm là đầu tư công. Thực hiện đúng nguyên tắc, cơ chế phân bổ vốn; tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết; đối ứng các dự án ODA. Kiểm soát chặt chẽ các công trình mới, khắc phục từng bước đầu tư dàn trải. Thực hiện cơ chế quản lý, cân đối vốn đầu tư theo kế hoạch trung hạn, đặc biệt là đối với nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn chương trình hỗ trợ theo mục tiêu được thẩm định và thỏa thuận nguồn vốn từ Trung ương.

 Đối với tái cơ cấu tài chính, tín dụng. Thực hiện tốt các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước. Lành mạnh hóa tình trạng tài chính của các tổ chức tín dụng, trước hết tập trung xử lý nợ xấu của cả hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Rà soát, đánh giá, phân loại để có phương án xử lý thích hợp đối với các tổ chức tín dụng yếu kém.

Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Đối với tỉnh Quảng Nam, nội dung này chủ yếu là thực hiện sắp xếp, chuyển đổi các công ty nhà nước, các nông lâm trường quốc doanh theo đề án được duyệt. Giai đoạn 2001-2015 tỉnh Quảng Nam phải tiến hành sắp xếp, chuyển đổi 77 doanh nghiệp; trong đó giai đoạn 2001-2010 là 71 doanh nghiệp; giai đoạn 2011-2015 là 6 doanh nghiệp.  Kết quả đã hoàn thành với 71 doanh nghiệp được sắp xếp, chuyển đổi giai đoạn 2001-2010. Đối với 06 doanh nghiệp phải tiếp tục sắp xếp giai đoạn 2011-2015, tiếp tục thực hiện theo đúng lộ trình của Chính phủ qui định.

4. Ba nhiệm vụ đột phá được triển khai đồng bộ và đã đạt một số kết quả quan trọng.

Về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ. Đã tập trung rà soát điều chỉnh các quy hoạch, tạo cơ sở pháp lý cho phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ. Ban hành chương trình thực hiện Nghị Quyết của Tỉnh ủy với 9 nhóm lĩnh vực quan trọng bao gồm: Giao thông, thủy lợi – nông nghiệp, Giáo dục và đào tạo, văn hóa, y tế, điện, khoa học và công nghệ, các dự án Khu kinh tế mở Chu Lai và các chương trình ODA.

Nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng được huy động ngày càng đa dạng; ngoài nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, các nguồn lực từ doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, nhân dân đóng góp... để phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Nhiều công trình về giao thông, thủy lợi, hạ tầng khu kinh tế, đô thị và nông thôn, y tế, giáo dục đã được đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả; đồng thời tiếp tục đầu tư, xây dựng nhiều công trình mới quan trọng, thiết yếu khác.

Về phát triển nguồn nhân lực. Đã phê duyệt và triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 -2020 và nhiều Đề án như: Đào tạo cán bộ, công chức, viên chức có trình độ sau đại học; Đào tạo ngoại ngữ theo tiêu chuẩn quốc tế; tuyển chọn đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh và nhiều chương trình, đề án liên quan khác nhằm mục tiêu tổng quát chung là phát triển nhân lực đảm bảo về số lượng, chất lượng, hướng tới một cơ cấu nhân lực hợp lý, tăng cường thu hút và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm cung ứng cho các ngành kinh tế của tỉnh.

Trên cơ sở thực hiện đồng bộ từ chăm sóc sức khỏe nhân dân; tuyên truyền giáo dục; phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; dạy nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất cho dạy và học. Đã chuyển đổi 100% các trường mầm non bán công sang công lập. Huy động từ trên 92% đến 99,5% học sinh trong độ tuổi vào các cấp học. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT trung bình hàng năm trên 98%; tỷ lệ đỗ đại học, cao đẳng theo nguyện vọng 1 từ 28,6% năm 2012 lên gần 33% năm 2013.

Từ năm 2011 đến nay, tổng số cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng là 32.000 lượt người về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, quản lý nhà nước, kiến thức, kỹ năng lãnh đạo quản lý, kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND,... Tuyển chọn, đào tạo, bố trí 276 cán bộ chủ chốt cấp xã. Tập trung xây dựng và thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thu hút bác sỹ, bác sỹ nội trú; tư vấn du học. Khai thác tốt các nguồn học bổng trong và ngoài nước, đồng thời cử một số cán bộ tham gia bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài. Đây là cơ sở ban đầu cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh.

Về cải thiện môi trường đầu tư. Các quy hoạch liên quan đến cải thiện môi trường đầu tư được rà soát, điều chỉnh và bổ sung kịp thời. Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; quy hoạch sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, cũng như quy hoạch tổng thể tại các huyện, thành phố trong tỉnh. Ban hành một số cơ chế khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; quy chế ưu đãi đầu tư về giày da, may mặc và mây tre lá. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách của Chính phủ về miễn, giảm, gia hạn nộp thuế cho các doanh nghiệp

Cùng với công tác quy hoạch và ban hành cơ chế chính sách, cải cách hành chính được xem là nhiệm vụ trọng tâm của cải thiện môi trường đầu tư. Nhiều chương trình và hoạt động cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nhằm đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư và phát triển doanh nghiệp. Thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ Công tác hỗ trợ, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án du lịch ven biển; xây dựng cơ chế một cửa ở các huyện, thành phố và các sở, ban ngành, ... Tất cả những việc làm này đã tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục.

5. Văn hóa xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng, an sinh xã hội được đảm bảo.

 Thực hiện đồng bộ các giải pháp đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ tín dụng. Hệ thống mạng lưới cơ sở dạy nghề đã được hình thành đa dạng, rộng khắp trên địa bàn với 49 cơ sở dạy nghề. Chất lượng dạy nghề đã từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Ước cả năm giải quyết việc làm 39.000 lao động, đạt chỉ tiêu đề ra. Như vậy, qua 03 năm 2011-2013, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho hơn 115 ngàn lao động, bằng 57,5% chỉ tiêu cho cả 5 năm[22], trong đó có 600 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.

Đã tuyển sinh và đào tạo nghề cho hơn 26.000 người[23], trong đó chủ yếu là đào tạo sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng.  Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, với gần 7.500 học viên theo học[24]. Tỷ lệ lao động có việc làm sau khi học nghề gần 67%, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 31,5% năm 2010 lên 36,6% năm 2013; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 48% năm 2013. Cơ cấu lao động phi nông nghiệp chiếm hơn 45%; lao động nông nghiệp dưới 55% trong tổng số lao động, bình quân mỗi năm chuyển dịch hơn 1,4% lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. So với Nghị Quyết đề ra, chỉ tiêu lao động nông nghiệp đến 2015 chiếm dưới 42% thì cần phải tiếp tục phấn đấu nhiều hơn.

Thực hiện tốt chính sách tiền lương theo qui định của Chính phủ. Mức lương tối thiểu được tăng dần. Thu nhập dân cư được tăng lên, năm 2013 gấp hơn 1,3 lần năm 2011[25].

Công tác giảm nghèo đã đạt được những kết quả quan trọng, phương thức giảm nghèo đã được đổi mới phù hợp theo Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội và điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản; làm tốt công tác truyền thông, nâng cao dân trí. Đã hoàn thành chương trình nhà ở cho người nghèo với tổng số nhà hoàn thành theo đề án qua 4 năm (2009-2012) lên hơn 18.000 nhà, bằng 100% theo kế hoạch. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm khá nhanh, từ 24,1% năm 2010 xuống khoảng 15,5 % năm 2013, bình quân mỗi năm giảm hơn 2,8% tỷ lệ hộ nghèo, đạt chỉ tiêu đề ra, giảm từ 2,5% đến 3%/năm. Riêng năm 2013 giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,43%, chưa đạt chỉ tiêu đề ra để hộ nghèo của tỉnh còn dưới 15%.

Thực hiện tốt chính sách người có công, các trường hợp chính sách. Trong năm đã xác nhận và thực hiện hơn 13.000 trường hợp chế độ chính sách. Hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho trẻ em nghèo, học sinh dân tộc bán trú. Thực hiện kịp thời công tác cứu trợ đột xuất và khắc phục hậu quả thiên tai. Chương trình xây dựng nhà ở cho người có công đang được đẩy mạnh thực hiện, phấn đấu huy động các nguồn lực để hoàn thành 22.600 nhà cho giai đoạn 2013-2014.

Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp. Số bác sỹ/vạn dân tăng dần qua các năm, từ 4,7 năm 2010 lên hơn 5,6 bác sỹ/vạn dân năm 2013. Dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi, các dịch vụ y tế ngày một đa dạng. Nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng, việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã có nhiều cố gắng hơn trước. Bảo hiểm y tế bước đầu phát huy tác dụng. Nhân dân ở hầu hết các vùng, miền trong tỉnh đã được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Chú trọng thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi và các trường hợp chính sách xã hội khác. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn khoảng 13,5%[26].

Văn hóa, thông tin, thể thao tiếp tục phát triển. Các thiết chế văn hoá như: Thư viện, bảo tàng, các cơ sở đào tạo, các cơ quan thông tin đại chúng, các đơn vị biểu diễn nghệ thuật, các hoạt động dịch vụ văn hoá... từng bước được đầu tư, củng cố. Quá trình nâng cao nhận thức xã hội về giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể đã thúc đẩy hoạt động bảo tồn, bảo tàng không ngừng phát triển. Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành thể dục thể thao đã từng bước được đầu tư, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi trong đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao trên địa bàn. Đội bóng đá được thăng hạng V-leage mùa giải 2013-2014.

6. Kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, chương trình nông thôn mới tiếp tục được thực hiện, đạt một số kết quả trên các lĩnh vực

Hầu hết các chương trình mục tiêu quốc gia đều tập trung phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi. Kết cấu hạ tầng nông thôn từ các chương trình theo Nghị quyết 30a và chương trình các huyện nghèo ngoài 30a; chương trình 135 giai đoạn 2, các xã bãi ngang ven biển, kiên cố hóa trường học, các công trình giao thông, thủy lợi, trạm y tế, chợ, nước sinh hoạt, điện nông thôn, ... được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, góp phần quan trọng cho việc đổi mới bộ mặt nông thôn. 98% số xã có điện với 98,4% số hộ sử dụng điện; hơn 97% số xã có đường ô tô đến trung tâm.

Chương trình bê tông hóa giao thông nông thôn tiếp tục được thực hiện theo Nghị Quyết của Hội đồng nhân dân; năm 2013 ngân sách tỉnh hỗ trợ gần 100 tỷ đồng, cùng với ngân sách cấp huyện và đóng góp của nhân dân, đã xây dựng hoàn thành gần 265 km đường giao thông nông thôn, 460 cống các loại với tổng mức đầu tư hơn 186 tỷ đồng.

Sau 3 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới, tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở các xã được tăng lên đáng kể; bình quân chung tiêu chí đạt chuẩn của 206 xã là 6 tiêu chí/xã[27], tăng bình quân gần 1,2 tiêu chí/xã so với năm 2010. Riêng tiêu chí bình quân của 50 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2015 là 10,15 tiêu chí/xã; tăng hơn 2,1 tiêu chí/xã so với năm 2010.  Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng chỉ tiêu đến 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khó có thể hoàn thành.

7. Tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Đã thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020 kết hợp rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng; quy hoạch sử dụng đất năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cho các huyện, thành phố trong tỉnh, trong đó có 203 xã lập quy hoạch sử dụng đất chung với quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới theo hướng dẫn của các Bộ ngành Trung ương.

Đã xây dựng 10 mô hình về thích ứng với biến đổi khí hậu ở 9 huyện, thành phố trong tỉnh.  Nhiều dự án thuộc chương trình biến đổi khí hậu và môi trường như: Xây dựng các kè chống sạt lở ở hệ thống  sông Thu Bồn, Vu Gia; kè sông, biển; xử lý nước thải, rác thải ở các đô thị Tam Kỳ, Hội An, các khu, cụm công nghiệp đã được triển khai, góp phần quan trọng trong công tác phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững.

Tình trạng phá rừng, khai thác và vận chuyển trái phép lâm sản từng bước được ngăn chặn, lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực kiểm tra, kiểm soát lâm sản, giảm bớt dư luận của xã hội đối với vấn đề này; đặc biệt, đã tổ chức truy quét, xóa bỏ một số tụ điểm khai thác khoáng sản trái phép trong vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh. Tuy nhiên, khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép vẫn diễn ra ở một số địa phương; các cơ sở chế biến, cưa xẻ sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ bất hợp pháp còn tồn tại.

8. Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đạt được một số kết quả.

Công tác phòng chống tham nhũng được thực hiện gắn với thực hiện Nghị Quyết Trung ương 4 về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng đảng hiện nay và việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Qua công tác thanh tra hàng năm đã phát hiện nhiều vụ sai phạm trong quản lý hành chính, quản lý đất đai; đã xử lý nhiều cá nhân, tổ chức sai phạm.

Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường đối thoại, giải quyết khiếu nại ngay từ cơ sở, hạn chế phát sinh mới các khiếu nại vượt cấp. Tập trung giải quyết  các vụ việc tồn đọng, kéo dài, đảm bảo công khai, minh bạch và lợi ích hợp pháp của người dân.

9. Quốc phòng và an ninh được đảm bảo, đối ngoại được tăng cường

Công tác xây dựng khu vực phòng thủ được tăng cường, đạt được những kết quả quan trọng, tạo cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế, xã hội. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân được giữ vững. Tổ chức lực lượng đảm bảo cả số lượng và chất lượng. Công tác tuyển quân đạt chỉ tiêu, chất lượng cao. Tổ chức tốt công tác quốc phòng toàn dân cho các đối tượng. Duy trì sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm công tác huấn luyện. Chủ trì, phối hợp với Quân Khu V, Bộ Quốc phòng tổ chức tốt diễn tập thực nghiệm chống động đất tại Bắc Trà My.

Phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm nguy hiểm và tệ nạn xã hội được tập trung chỉ đạo, công tác an toàn giao thông đạt kết quả. 

Duy trì, phát triển toàn diện mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông kết nghĩa. Tổ chức nhiều hoạt động giao lưu, quảng bá văn hóa Quảng Nam với nước ngoài. Chủ động củng cố và đẩy mạnh hợp tác với địa phương thuộc các nước trong khu vực và quốc tế.

Nhìn lại việc thực hiện kế hoạch năm 2013, trong 15 chỉ tiêu được HĐND tỉnh thông qua, có 06 chỉ tiêu chưa đạt gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, giá trị sản xuất nông nghiệp, giảm tỷ lệ hộ nghèo và tỷ lệ khu công nghiệp được xử lý nước thải; tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ dân đô thị sử dụng nước sạch[28]; 02 chỉ tiêu xấp xỉ đạt là giá trị sản xuất ngành công nghiệp và dịch vụ; 07 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, đạt được những kết quả như trên là một sự cố gắng lớn của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh. Như vậy, mặc dù một số các chỉ tiêu theo Nghị quyết, chúng ta chưa thể thực hiện được, nhưng xét về các mục tiêu như: Tăng trưởng kinh tế; an sinh xã hội và giảm nghèo; phát triển hạ tầng đồng bộ; cải thiện môi trường đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực thì chúng ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng, tạo tiền đề cho sự phát triển của những năm tiếp theo.

II. MỘT SỐ KHÓ KHĂN, TỒN TẠI

1. Tốc độ tăng trưởng thấp hơn chỉ tiêu đề ra (11,5%). Qua 3 năm 2011-2013 tốc độ tăng GRDP bình quân 11,75%, thấp hơn gần 1,8% so với chỉ tiêu đề ra cho cả nhiệm kỳ 2011-2015 (13,5%). Qui mô nền kinh tế nhỏ[29]. GRDP bình quân đầu người khoảng 30,7 triệu đồng năm 2013, tương đương 1.470 USD, đây là chỉ số còn rất thấp so với cả nước[30].

2. Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Nợ xấu có giảm nhưng vẫn còn cao. Tốc độ tăng trưởng các ngành chậm lại và thấp hơn chỉ tiêu bình quân cho giai đoạn 2011-2015[31]

3. Thu nội địa tăng thấp, do tình hình khó khăn trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng chung của thị trường bất động sản nên huy động từ nguồn thu tiền sử dụng đất cũng gặp khó khăn. Năm 2012 hụt thu; Năm 2013 dự kiến đảm bảo dự toán đề ra, nhưng bình quân 3 năm 2011-2013 tốc độ tăng thu nội địa hơn 17%/năm, thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2006-2010[32] và thấp hơn chỉ tiêu đề ra[33].

4. Triển khai ba nhiệm vụ đột phá còn chậm. Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; huy động vốn đầu tư gặp nhiều khó khăn. Nhiều công trình trọng điểm thiếu vốn. Các cơ chế định hướng thu hút các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tuy có nhiều cải thiện nhưng nhiều mặt còn hạn chế như bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, giao đất, giá đất; cũng như việc chậm triển khai theo cam kết của nhà đầu tư. Công tác thu hút đầu tư vào miền núi, vùng đồng bào dân tộc chưa nhiều. Chất lượng của các dự án khả thi chưa cao. Nợ xây dựng cơ bản còn lớn. Chưa thu hút và phát triển mạnh đầu tư khu vực ngoài nhà nước[34]. Cải cách hành chính thiếu đồng bộ. Cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, thiếu lao động chất lượng cao. Hiệu quả dạy nghề còn thấp, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn. Sự chuyển dịch lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn rất chậm. Tỷ trọng lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao[35]. Việc thu hút người có trình độ cao vào các cơ quan nhà nước còn nhiều vướng mắc.

5. Chất lượng giảm nghèo chưa vững chắc. Tỷ lệ hộ nghèo cao, gấp gần 2 lần so với bình quân chung cả nước[36]. Việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tại 50 xã phấn đấu hoàn thành các tiêu chí giai đoạn 2011-2015 chưa đạt kế hoạch đề ra. Nguồn lực để thực hiện nâng mức hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội, chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các cơ chế hỗ trợ của tỉnh, tạo việc làm còn nhiều khó khăn. Số hộ khó khăn về nhà ở còn lớn. Chưa đảm bảo cơ cấu dạy nghề theo 3 cấp độ. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiệu quả chưa cao.

6. Quy hoạch, khai thác và sử dụng chưa hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khai thác trái phép khoáng sản vẫn còn xảy ra ở một số địa phương. Ô nhiễm môi trường tại một số cơ sở sản xuất, cụm công nghiệp, làng nghề, một số khu dân cư, lưu vực sông vẫn còn xẩy ra. Khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu còn hạn chế.

7. Công tác tham nhũng, lãng phí chưa đáp ứng với mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi.

Phần thứ hai

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH - TẾ XÃ HỘI NĂM 2014

I. NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:

1. Nhiệm vụ chủ yếu:

Nâng cao chất lượng tăng trưởng, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2013; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, nâng cao hiệu quả đầu tư công; đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu[37]:

1. Các chỉ tiêu về kinh tế:

- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng khoảng 11,5% so với năm 2013.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 22%

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm khoảng 31,5% GRDP

- Thu nội địa tăng 11,6%

2. Các chỉ tiêu về xã hội:

- Tạo việc làm mới 41.000 lao động

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo 51%

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp 48%

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 2,5 - 3%, xuống còn dưới 13%

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 12%

3. Các chỉ tiêu về môi trường:

- Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý (theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg) 80%

- Tỷ lệ che phủ rừng: 49,5%

- Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh 85%. Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch 67%

- Xử lý 50% nước thải tập trung các khu công nghiệp đang hoạt động[38].

- Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom 84,5%.

II. DỰ KIẾN CÂN ĐỐI LỚN TRONG NĂM 2014:

1. Khả năng cân đối ngân sách.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2014 khoảng 6.870 tỷ đồng, tăng hơn 14% so với ước thực hiện năm 2013, bao gồm: Thu nội địa 5.000 tỷ đồng, trong đó thu tiền sử dụng đất 550 tỷ đồng; thu xuất nhập khẩu 1.570 tỷ đồng. Thu quản lý qua ngân sách 300 tỷ đồng.

2. Dự báo cân đối vốn đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến hơn 16.400 tỷ đồng, chiếm hơn 31,5% tổng sản phẩm trong tỉnh, tăng 10% so với ước thực hiện năm 2013. Trong đó:

- Ngân sách nhà nước địa phương quản lý hàng năm hơn 4.000 tỷ đồng[39], chiếm khoảng 24,5%; trong đó bao gồm ngân sách tập trung; chương trình mục tiêu; chương trình hỗ trợ theo mục tiêu; khai thác quĩ đất, xổ số kiến thiết, TPCP).

- Dự kiến Trung ương đầu tư trên địa bàn  hơn 5.000 tỷ đồng, chiếm 30% tổng nguồn (dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, mở rộng quốc lộ I A, các dự án thủy điện)

- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và nhân dân hơn 3.200 tỷ đồng, chiếm 20% (cả nước dự kiến 41%)

- Nguồn vốn tín dụng và nguồn vốn khác khoảng gần 3.000 tỷ đồng, chiếm 18%

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài khoảng 1.100 tỷ đồng, chiếm khoảng 7% (cả nước dự kiến 19%)

3. Lao động việc làm:

Năm 2014, số lao động làm việc trong nền kinh tế của tỉnh khoảng 856.000 người.

Dự kiến giải quyết việc làm cho 41.000 người. Tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động 51%.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Ổn đinh phát triển kinh tế, góp phần kiểm soát lạm phát

Thực hiện tốt các chính sách của nhà nước để đảm bảo phát triển kinh tế trong trung và dài hạn, nhất là thực hiện tốt các chính sách về điều hành lãi suất, tăng dư nợ tín dụng và đảm bảo chất lượng tín dụng.

Đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm, chú trọng các sản phẩm của tỉnh đã có thương hiệu, các sản phẩm có sản lượng chiếm tỷ lệ cao như: ô tô, giầy da, may mặc, chế biến thủy – hải sản, sản phẩm gỗ, nguyên liệu giấy, vàng, vật liệu xây dựng.

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc kê khai nộp thuế. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước, chi cho đầu tư công, chi không phát sinh ngoài dự toán, đồng thời xây dựng dự toán thu sát với thực tế, nhất là thu tiền sử dụng đất, thu phát sinh kinh tế, thu thuế xuất nhập khẩu để chủ động trong phân bổ và tổ chức thực hiện. Bố trí thu hồi các nguồn tạm ứng, kiểm soát chặt chẽ nợ khối lượng xây dựng cơ bản theo Chỉ thị 27 của Thủ tướng Chính phủ.

Tăng cường công tác quản lý thị trường giá cả. Xử phạt nghiêm minh các vi phạm pháp luật về thương mại, thị trường.

2. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.

Phát triển thị trường trong nước, thực hiện tốt cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Khai thác hiệu quả các cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu.

Tiếp tục thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu. Ưu tiên nguồn vốn tín dụng và lãi suất cho các doanh nghiệp, nhất là đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn.

Thực hiện tốt các chính sách khuyến công, khuyến nông, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, đẩy mạnh phát triển du lịch và các ngành dịch vụ.

3. Thực hiện tốt các giải pháp về tái cơ cấu nền kinh tế

Đẩy mạnh thực hiện Đề án tái cơ cấu nền kinh tế của Chính phủ phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh.

Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công. Tiếp tục thực hiện kế hoạch trung hạn. Tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết, vốn đối ứng, giải phóng mặt bằng, bố trí vốn cho các dự án đã hoàn thành và đã bàn giao đưa vào sử dụng; ưu tiên bố trí vốn cho các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2014 - 2015; còn lại các dự án không bố trí được vốn, thì chuyển sang thực hiện đầu tư theo hình thức khác, huy động vốn đầu tư từ các nguồn khác, hoặc tạm thời đình hoãn, chuyển sang giai đoạn sau năm 2015. Tích cực xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Tăng cường quản lý đầu tư, thanh tra, giám sát, đảm bảo chất lượng các công trình.

Tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh thu hút đầu tư ngoài nhà nước, các doanh nghiệp nước ngoài, tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án lớn, công nghệ cao, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.

  Về tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngân hàng. Tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước. Lành mạnh hóa tình trạng tài chính của các tổ chức tín dụng, trước hết tập trung xử lý nợ xấu của cả hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, rà soát, đánh giá, phân loại để có phương án xử lý thích hợp đối với các ngân hàng thương mại cổ phần và các tổ chức tín dụng khác, trước hết vào các tổ chức tín dụng yếu kém hoặc vi phạm quy định của pháp luật; giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng và triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu được Chính phủ phê duyệt tại các tổ chức tín dụng. Rà soát hoạt động quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tín dụng vi mô, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này hoạt động bình thường, tiếp tục phát triển về quy mô, năng lực quản trị điều hành và an toàn thanh khoản.

Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Tiếp tục thực hiện sắp xếp, chuyển đổi các công ty nhà nước theo đề án được duyệt giai đoạn 2011-2015 của tỉnh, hoàn thành đúng lộ trình sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình được qui định tại Công văn 87/TTg-ĐMDN ngày 16/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Về tái cơ cấu các ngành:

Triển khai Chương trình hành động thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo Quyết định số 2577/QĐ-UBND ngày 20/8/2013 của UBND tỉnh. Phấn đấu tăng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên 4% so với năm 2013. Nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Phát triển hạ tầng phục vụ nông nghiệp và nông thôn. Phát triển các vùng nguyên liệu cao su, keo; vùng chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản. Chú trọng áp dụng công nghệ trong phát triển giống lúa lai, sâm Ngọc Linh và các cây hương liệu, dược liệu trên địa bàn tỉnh, công nghệ chế biến và bảo quả sau thu hoạch. Khuyến khích đưa các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc, giầy da về nông thôn. Đẩy mạnh thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển, tiếp tục chương trình hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ, phát triển hậu cần nghề cá và chế biến thủy hải sản.

 Cơ cấu các ngành công nghiệp từ gia công sang sản xuất và chế biến, tham gia sâu hơn trong chuỗi giá trị. Phát triển công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản.

Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế và tiềm năng của tỉnh như vận tải biển và hậu cần cảng biển, hàng không, công nghệ thông tin. Phát triển mạnh du lịch gắn với lợi thế các loại hình du lịch khu vực miền Trung trong sự giao lưu với các nước khu vực và quốc tế.

4. Thực hiện có hiệu quả 3 nhiệm vụ đột phá

Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hoàn thành xây dựng quy hoạch vùng của tỉnh; lấy ý kiến các Bộ ngành Trung ương, trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển đến năm 2020; rà soát bổ sung các qui hoạch ngành làm cơ sở để thúc đẩy phát triển kết câu hạ tầng đồng bộ. Kiểm soát chặt chẽ và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Huy động các nguồn vốn để hoàn thành các công trình trọng điểm vào năm 2015 như: Cầu Cửa Đại; thực hiện tốt bồi thường giải phóng mặt bằng để thúc đẩy Trung ương hoàn thành nâng cấp quốc lộ IA. Sớm bàn giao mặt bằng thi công công trình đường Cao tốc đoạn qua Quảng Nam. Tiếp tục thực hiện để sau 2015 hoàn thành đường dẫn Cầu Cửa Đại, các đường cứu hộ Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành.

Ưu tiên tăng nguồn vốn đầu tư phát triển ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Phát triển hạ tầng thuỷ lợi, phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Phấn đấu đến năm 2015, diện tích lúa nước được tưới chủ động và ổn định bằng các công trình thủy lợi  trên 90% diện tích sản xuất lúa nước/vụ.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Phấn đấu đến năm 2015, từng bước giải quyết một phần tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, cơ sở khám chữa bệnh cho lao động tại các khu công nghiệp. Tiếp tục phát triển các cụm công nghiệp theo qui hoạch.

Phát triển cảnh quan đô thị theo quy định xây dựng cho các đô thị. Ưu tiên cải tạo, nâng cấp các trục đường chính ra vào đô thị, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ bằng các chương trình, dự án ODA. Chú trọng thu hút các nguồn vốn để xây dựng Điện Bàn thành thị xã và đô thị Núi Thành.

Về phát triển nguồn nhân lực. Tổ chức thực hiện tốt qui hoạch phát triển nguồn nhân lực. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo việc làm mới, chuyển dịch cơ cấu lao động. Thực hiện đồng bộ các đề án về xác định vị trí làm việc; đào tạo, luân chuyển cán bộ; đào tạo nghề; phát triển nguồn nhân lực theo các đề án đã ban hành.

Nâng cao chất lượng dạy nghề, liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong, tổ chức dạy nghề và tiếp nhận sử dụng người lao động sau khi hoàn thành các khoá học nghề. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn một cách đồng bộ, xem đây là động lực nhằm đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, để góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Xây dựng và triển khai thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đề án thu hút bác sĩ, bác sĩ nội trú. Nâng cao chất lượng dạy, học và bồi dưỡng ngoại ngữ. Tiếp tục cử cán bộ tham gia học tập ngắn hạn, dài hạn tại một số nước trên thế giới. 

Về cải thiện môi trường đầu tư. Xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông một cách hợp lý, rà soát, giảm thiểu thời gian cũng như chi phí gia nhập thị trường cho tất cả các nhà đầu tư. Thực hiện tốt các các nhóm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường và phát triển doanh nghiệp; Chú trọng thu hút đầu tư đồng thời rà soát thu hồi giấy phép đối với các doanh nghiệp không thực hiện theo cam kết. Không thu hút, cấp phép những dự án gây ô nhiễm môi trường, những dự án đang thực hiện phải đảm bảo đúng các qui định hiện hành về quản lý và bảo vệ môi trường.

5. Phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi; đảm bảo an sinh xã hội.

Tiếp tục thực hiện đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn theo tinh thần Nghị Quyết Trung ương 7. Tổ chức tốt công tác quản lý, giao đất, phát triển rừng. Đẩy mạnh thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình giảm nghèo, chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, miền núi, nhất là 06 huyện nghèo theo Nghị Quyết 30a. Đối với các huyện nghèo của tỉnh ngoài chương trình theo Nghị Quyết 30a, tiếp tục huy động nguồn lực để hỗ trợ các huyện này nhằm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo của tỉnh khoảng trên 4%, cao hơn mức bình quân chung của tỉnh (2,5-3%/năm). 

Triển khai thực hiện tốt đề án phát triển giao thông nông thôn và kiên cố hóa kệnh mương. Phấn đấu huy động nguồn lực để tiếp tục xây dựng khoảng hơn 200 km đường bê tông nông thôn trong năm 2014 để đến năm 2015 hoàn thành chương trình theo Nghị Quyết HĐND tỉnh đề ra; tiếp tục duy tu sửa chữa các tuyến đường, nhất là các tuyến ĐT đang xuống cấp. Đầu tư các công trình thủy lợi, hồ chứa. Triển khai xây dựng 02 tuyến đường ô tô đến trung tâm xã Trà Sơn huyện Bắc Trà My và xã Chơ chun huyện Nam Giang.

Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học, nhà công vụ cho giáo viên, trường dân tộc nội trú.

Thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội. Đẩy nhanh việc giải quyết các trường hợp tồn đọng về công nhận người có công và các trường hợp công nhận mới. Tu bổ nghĩa trang, đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chương trình xây dựng nhà ở người có công giai đoạn 2013-2014 theo Quyết định 22 của Thủ tướng Chính phủ.

Chủ động phòng chống, không để xảy ra các dịch bệnh lớn. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường nhân lực cho ngành y tế theo đề án được duyệt. Tiếp tục triển khai xây dựng một số bệnh viện tuyến tỉnh, huyện và các trạm y tế xã. Quản lý chặt chẽ giá và chất lượng thuốc chữa bệnh. Mở rộng các trường hợp tham gia bảo hiểm y tế. Tăng cường quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm.

   6. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

Thực hiện tốt luật đất đai sửa đổi. Tổ chức quản lý và thực hiện các qui hoạch sử dụng đất, qui hoạch 3 loại rừng đã được duyệt.

Nâng cao hiệu quả công tác quản nhà nước về tài nguyên khoáng sản, bảo đảm nguồn khoáng sản được sử dụng hợp lý, tiết kiệm. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chế biến sâu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Giải quyết tốt vấn đề môi trường ở các khu, cụm công nghiệp; nhất là ở một số nhà máy sản xuất qui mô lớn. Phấn đấu trong năm 2014 xúc tiến xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại khu công nghiệp Đông Quế Sơn.

Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cá nhân khai thác, vận chuyển lâm sản, khoáng sản trái phép.

7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí; giải quyết kịp thời các khiếu nại của công dân.

Tổ chức thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cánh hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020. Tiếp tục thực hiện đơn giải hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động các cơ quan nhà nước.

Thực hiện Đề án xác định vị trí làm việc và Đề án thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp. Thực hiện tốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị 22 của Chủ tịch UBND tỉnh về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc tại các cơ quan, đơn vị.

Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, hạn chế thấp nhất các khiếu nại đông người. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý vốn, tài sản nhà nước. Giải quyết và thực hiện dứt điểm các kết luận thanh tra.

Chỉ đạo các cơ quan thông tin, tuyên truyền, báo chí trên địa bàn đẩy mạnh công tác tư tưởng, tuyên truyền, đưa thông tin kịp thời về các chủ trương, chính sách và các chương trình hành động của Chính phủ, của tỉnh về ổn định phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền vận động nhân dân và doanh nghiệp sử dụng hàng Việt Nam, thực hành tiết kiệm trong sản xuất.

8. Đảm bảo quốc phòng và an ninh.

Thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia; Sâu sắc hơn mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt, xây dựng “biên giới mẫu mực” giữa hai tỉnh Quảng Nam – Sê Kông.

Nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện và hoạt động chiến đấu trị an cấp xã. Thực hiện có chiều sâu công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng. Tăng cường nắm tình hình, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng quân sự - công an – biên phòng. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ bảo đảm chất lượng thật sự. Tổ chức diễn tập phòng thủ cấp tỉnh, huyện, xã. Tuyển chọn công dân nhập ngũ đạt chỉ tiêu, bảo đảm chất lượng.

Quản lý chặt chẽ các dự án về quản lý biên giới; các dự án thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo. Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, nhất là ở địa bàn vùng biên giới, vùng an toàn khu theo Quyết định 229 của Thủ tướng Chính phủ. Kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm. Phấn đấu giảm tỷ lệ tai nạn giao thông.

Anh Tư

(Nguồn: Báo cáo số 247/BC-UBND ngày 29/11/2013)



[1] Chỉ số giá tiêu dùng cả nước năm 2013 dự kiến khoảng 7%

[2] Chỉ tiêu xuất khẩu 2013 là tăng 20%, thực hiện 595 triệu USD, tăng 22,3%

[3] Chỉ tiêu xuất khẩu 2011-2015 tăng bình quân 22%

[4] Bình quân 3 năm nhập khẩu tăng 7,8%. 

[5] Huy động tiền gửi đến đầu tháng 11/2013

[6] Huy động năm 2011 tăng trên 24%; năm 2012 tăng 21%. Tăng trưởng tín dụng 2011 tăng 21,4%; năm 2012 tăng gần 9,5%

[7] Mục tiêu của cả nước tăng trưởng tín dụng năm 2013 là 12%

[8] Nợ xấu hơn 1.130 tỷ đồng, chiếm 5,05% trên tổng dư nợ

[9] Cả nước tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP chiếm 29,1%

[10] Giai đoạn 2006-2010 vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 23%/năm

[11] Nghị Quyết đề ra giai đoạn 2011-2015 tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14%/năm

[12] Tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2011-2015 khoảng 90.000 tỷ đồng

[13] Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP năm 2011 chiếm 40%; năm 2012 chiếm 36%

[14] Kế hoạch tốc độ tăng theo giá 1994 là 11,5%

[15] Chỉ tiêu tăng trưởng GRDP (giá 1994) theo NQ đề ra 13,5%

[16] Mục tiêu cơ cấu kinh tế đến 2015: Nông lâm ngư dưới 12%; CN-XD và DV trên 88%

[17] Chỉ tiêu GTSX công nghiệp giá 1994 tăng 18%; thực hiện tăng 17,84%

[18] Chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp (giá 1994)  tăng bình quân 22%/năm, thực hiện hơn 19,7%

[19] Chỉ tiêu giá trị các ngành dịch (giá 1994) vụ tăng bình quân 16%/năm, thực hiện hơn 15,5%. Riêng năm 2013 chỉ tiêu 16%, thực hiện 15,9%

[20] Chỉ tiêu giá trị sản sản xuất nông  lâm ngư (giá 1994) tăng bình quân 4,5%, thực hiện tăng gần 4%

[21] Chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp năm 2013 giá 1994 tăng 4,5%, thực hiện tăng 1,56%

[22] Kế hoạch 2011-2015 giải quyết việc làm cho 200.000 lao động

[23] Tuyển sinh đào tạo nghề 10 tháng, trong đó cao đẳng nghề chiếm 0,7%; trung cấp nghề 4%, so cấp và dưới 3 tháng hơn 95%

[24] Dự kiến năm 2013 đào tạo nghề lao động nông thôn khoảng 10.000 người

[25] Thu nhập bình quân năm 2013 là 19.800.000 đồng; năm 2011 là 14.760.000 đồng.

[26] Chỉ tiêu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng theo NQ đề ra trên dưới 12% vào năm 2015.

[27] Bình quân chung của cả nước 8,06 tiêu chí/xã, tăng hơn 3,09 tiêu chí so với năm 2010

[28] Theo số liệu Thống kê, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 92,5%; tỷ lệ hộ dân đô thị sử dụng nước sạch 97,5%. Số liệu của các ngành thấp hơn nhiều, tương ướng là 84% và 64%

[29] Năm 2012, tổng sản phẩm của tỉnh chiếm khoảng 1,3% so với tổng sản phẩm cả nước

[30] GRDP bình quân đầu người  cả nước dự kiến năm 2013 khoảng gần 1.900 USD

[31] Chỉ tiêu tăng trưởng các ngành 2011-2015: Công nghiệp 22%; dịch vụ 16%; nông lâm ngư nghiệp 4,5%

[32] Giai đoạn 2006-2010 thu phát sinh kinh tế tăng 28,5%;

[33] Chỉ tiêu tăng thu phát sinh kinh tế 2011-2015 bình quân 25%

[34] Nguồn vốn đầu tư từ NSNN chiếm 70% vốn đầu tư toàn xã hội, ngoài nhà nước 23%, FDI chiếm 7%.

[35] Tỷ trọng lao động nông lâm ngư chiếm 54%

[36] Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước dự kiến còn 7,8% cuối năm 2013

[37] Cả nước:  GDP tăng 5,8%; xuất khẩu tăng 10%; Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 30% GDP; tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%; trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 15,5%; số giường bệnh/vạn dân 22,5 giường; tỷ lệ che phủ rừng 41,5%; số hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch 84%; hộ dân đô thị sử dụng nước sạch 80%; các khu công nghiệp khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải  tập trung 80%; thu gom chất thải rắn đô thị 84,5%.

[38] Khu CN đang hoạt động gồm: DN-ĐN, Thuận Yên, Đông Quế Sơn, Tam Hiệp, Bắc Chu Lai, Ô tô Trường Hải.

[39] Năm 2013 kế hoạch vốn đầu tư phát triển hơn 3.600 tỷ đồng, thực hiện kể cả nguồn tạm ứng hơn 5.384  tỷ đồng

Tác giả: Trần Văn Hậu

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Đăng nhập

Người phát ngôn thông tin báo chí

Họ tên: Văn Anh Tuấn
Chức vụ: Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Số điện thoại: 0903589323
Email: vananhtuanqn@gmail.com








Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
Địa chỉ: 62 Hùng Vương, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT: 02353.852739. Fax: 02353.852748. Email: vpubnd@quangnam.gov.vn
Trưởng Ban điều hành: ông Văn Anh Tuấn, Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Ghi rõ nguồn "Văn phòng Ủy ban tỉnh Quảng Nam" khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này

Tổng số lượt truy cập
Design by QTI