Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Tình hình KTXH năm 2007, và định hướng phát triển năm 2008

Lượt xem: 2349

Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NĂM 2007
Năm 2007, tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, tái phát và diễn biến phức tạp; các đợt lũ liên tiếp xảy ra, trong đó có đợt lũ lớn lịch sử đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản; giá cả tiếp tục gia tăng đã ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành với những giải pháp tích cực nhằm hạn chế thấp nhất các thiệt hại, tăng cường công tác kiểm tra cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tập trung chỉ đạo quyết liệt, sâu sát, phấn đấu thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đề ra.
I. Những kết quả nổi bậc đã thực hiện được:    
1. Kinh tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 11 năm qua (14,38%), tạo khả năng hoàn thành nhiều mức chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 ngay trong năm 2008. Cơ cấu kinh tế công nghiệp – xây dựng và dịch vụ trong GDP từ 69% năm 2005 lên 74% năm 2007.
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng 29%, vượt chỉ tiêu. Giá trị các ngành dịch vụ đạt kế hoạch và có tốc độ tăng cao nhất kể từ trước đến nay 18%. Kim ngạch xuất khẩu vượt 07 triệu USD so với chỉ tiêu và tăng trên 24,5% ngay trong năm đầu khi gia nhập WTO. Riêng ngành nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn xấp xỉ đạt kế hoạch (98,3%).
Khu Kinh tế mở Chu Lai đã được tổ chức và sắp sếp lại. Trong năm đã thu hút và cấp phép 12 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn 260 triệu USD. Kết cấu hạ tầng quan trọng bắt đầu được phát huy: Sân bay Chu Lai tăng chuyến; hàng hóa bốc xếp qua cảng Kỳ Hà trên 650 ngàn tấn. Một số nhà máy sản xuất sản phẩm qui mô lớn như: Ô tô lắp ráp trên 10.000 chiếc; bắt đầu sản xuất gạch men, linh kiện điện tử. Đã phối hợp tích cực với các địa phương liên quan (Tam Kỳ, Núi Thành) thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. 
Trên địa bàn tỉnh, nhiều công trình hạ tầng và cơ sở sản xuất được đưa vào sử dụng, tạo động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển. Đã đưa vào sử dụng nhà máy thủy điện Khe Diên, các nhà máy thủy điện lớn đảm bảo tiến độ, dự kiến sẽ đưa vào vận hành một số tổ máy trong năm 2008 như thủy điện A Vương, Sông Kôn 2. Nhiều nhà máy khác đã khởi công như nhà máy cồn, gạch ceramic...
Trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch đã khởi công dự án sân golf. Hoàn thành đưa vào sử dụng khu du lịch Nam Hải với qui mô 5 sao; corpmart Tam Kỳ góp phần thúc đẩy phát triển và thị hiếu tiêu dùng trong nhân dân.
Môi trường đầu tư từng bước được chấn chỉnh, chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh được duy trì ở mức tốt. Đã kiên quyết thu hồi 46 giấy phép đầu tư, trong đó có 32 giấy phép đầu tư nước ngoài không thực hiện đúng cam kết.
Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội 5.712 tỷ đồng, chiếm trên 44% GDP, tăng trên 9,5%. Thu nội địa vượt trên 144 tỷ đồng so với dự toán năm và tăng trên 17% so với năm 2006.
2.Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có những chuyển biến tích cực. Đã xử lý quyết liệt để ngăn chặn dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh. Công tác xoá đói giảm nghèo tiếp tục đạt được kết quả nổi bật. Giải quyết việc làm 35.000 lao động, Thực hiện xóa trên 3.600 ngôi nhà tạm thuộc chương trình 134, nâng tổng số qua 3 năm thực hiện xóa 12.200 ngôi nhà tạm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 26,6% năm 2006 xuống còn 24% năm 2007; giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 23% xuống còn 21,6%.
3. Công tác cải cách hành chính, phân cấp, ủy quyền được đẩy mạnh. Phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiện được quan tâm chỉ đạo và kiên quyết. Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Đối ngoại tiếp tục được phát triển.
II. Tình hình thực hiện các lĩnh vực chủ yếu như sau:
1.1 Hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng cao và ổn định:
Giá trị sản xuất công nghiệp 5.263 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch và tăng 29% so với năm 2006. Trong đó công nghiệp ngoài nhà nước thực hiện trên 3.750 tỷ đồng, tăng trên 29% và chiếm trên 71% giá trị sản xuất toàn ngành; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên 670 tỷ đồng, tăng hơn 2 lần so với năm 2006. 
Nhiều sản phẩm công nghiệp phục vụ cho sản xuất và đời sống tăng khá như: Khai thác quặng kim loại gấp hơn 3 lần; công nghiệp da và sản xuất từ da tăng trên 2 lần; ô tô lắp ráp tăng gần 2 lần so với năm trước; may và sản xuất trang phục tăng gần 74%; bàn ghế xuất khẩu tăng trên 23%.
Một số địa phương có giá trị sản xuất tăng cao so với năm trước như: Duy Xuyên tăng trên 50%; Tam Kỳ tăng gần 40%; Đại Lộc, Quế Sơn tăng trên 30%, Núi thành tăng trên 26%.
Đến nay, đã có 91 dự án được cấp phép đầu tư tại 05 Khu trong tổng số 06 Khu công nghiệp trên địa bàn được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt. Trong đó, riêng Khu công nghiệp Điện Nam Điện Ngọc có 28 dự án hoạt động và có giá trị sản xuất luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, chiếm tỷ trọng trên 30% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
Năm 2007, đã hỗ trợ trên 7,5 tỷ đồng để phát triển các cụm công nghiệp. Số hộ và số cơ sở sản xuất tại các làng nghề tăng bình quân 10%/năm. Đã có khoảng 07 ngàn hộ và cơ sở tham gia sản có nguồn thu nhập chính từ nghề tiểu thủ công nghiệp.
1.2. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có tốc độ tăng cao nhất từ trước đến nay. Hoạt động Thương mại, du lịch, xuất khẩu chuyển biến theo hướng tích cực.
Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ thực hiện 5.225 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2006. Tổng mức bán lẻ hàng hóa 6.210 đồng, tăng trên 31,5%.
Giá trị xuất khẩu 176 triệu USD, vượt hơn 07 triệu USD so với kế hoạch và tăng 24,5% so với năm 2006. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tổng giá trị xuất khẩu chiếm trên 35% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh và có tốc độ tăng gấp gần 2 lần so với năm trước. Mặt hàng có giá trị xuất khẩu khá và tăng cao như: giầy da, dệt may, sản phẩm gỗ, nguyên liệu giấy, thủy hải sản.
Nhập khẩu ước thực hiện gần 200 triệu USD, tăng 27,5%. Trong đó hàng tư liệu sản xuất thực hiện 177 triệu USD, chiếm 88,5%, hàng tiêu dùng 23 triệu USD, chiến 11,5%. Do nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, hàng tư liệu sản xuất, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nên dự báo giá trị nhập khẩu còn tiếp tục tăng trong những năm đến.
Dự kiến năm 2007, khách tham quan và lưu trú trên 2 triệu lượt, vượt gần 16% so với kế hoạch và tăng trên 26% so với năm 2006. Trong đó khách lưu trú trên 622 ngàn lượt, tăng 31,5%. Doanh thu hoạt động khách sạn, nhà hàng 1.460 tỷ đồng, tăng trên 55%.
1.3. Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều yếu tố không thuận lợi về thời tiết, dịch bệnh nhưng giá trị tuyệt đối xấp xỉ đạt chỉ tiêu kế hoạch.
Giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp thực hiện 5.560 tỷ đồng, bằng 98,3% kế hoạch và tăng 3% so với năm 2006. Trong đó nông nghiệp 1.822 tỷ đồng, tăng 2%; lâm nghiệp 222 tỷ đồng, tăng gần 10%; thủy sản 516 tỷ đồng, tăng trên 4%
Tổng diện tích gieo trồng năm 2007 thực hiện 156.450 ha, tăng 2% so với năm 2006. Tổng sản lượng cây lương thực có hạt cả năm thực hiện trên 446.270 tấn, vượt 7,4% kế hoạch và tăng 3%. Trong đó sản lượng lúa 395.100 tấn, tăng gần 10.000 tấn so với năm 2006.
Dịch bệnh trên các đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh diễn biến phức tạp, gây thiệt hại trên đàn gia cầm và hơn 32.000 con lợn mắc bệnh tai xanh, trong đó có 8.100 con bị chết và tiêu hủy, nhưng tình hình dịch bệnh đã được ngăn chặn và chấm dứt. Tuy vậy, tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp và đã xuất hiện trở lại ở một số tỉnh thành trong phạm vi toàn quốc. Chính vì vậy, công tác tiêm phòng nhằm ngăn ngừa dịch bệnh vẫn được triển khai thường xuyên. Đã cung cấp trên 1,2 triệu liều vắc xin trên đàn gia súc và hơn 2 triệu liều vắc xin trên đàn gia cầm.
Diện tích trồng rừng tập trung 8.960 ha, tăng 3,3%. Trong đó trồng rừng tập trung trong nhân dân khoảng 3.500 ha, chiếm 39% tổng diện tích. Đã đầu tư 23,5 tỷ đồng để khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng. Giá gỗ rừng trồng tăng khá, kinh tế từ rừng ngày càng mang lại hiệu quả trong nhân dân nên phong trào trồng rừng phát triển mạnh. Tuy nhiên việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép chưa được ngăn chặn kịp thời, có nơi xảy ra nghiêm trọng. Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy của một số hộ dân vùng núi cao vẫn còn diễn ra. Tuy có giảm so với năm 2006, nhưng số vụ chặt phá rừng diễn ra còn ở mức cao. Để tăng cường công tác kiểm soát lâm sản, nhằm xoá bỏ các tụ điểm khai thác, chế biến lâm sản, chặt phá rừng trái phép, UBND tỉnh đã ban hành cơ chế giám sát, quản lý đối với rừng phòng hộ Phú Ninh và triển khai phương án chấn chỉnh công tác bảo vệ, xử lý, khắc phục triệt để tình trạng vi phạm, phân cấp trách nhiệm cho các ngành và địa phương liên quan.
Sản lượng thủy sản khai thác 50.500 tấn, tăng trên 3,1%. Năng suất khai thác bình quân 13,3 tấn / một tàu. Diện tích nuôi trồng trên 7.500 ha, tăng trên 4%, trong đó tôm nuôi nước lợ 2.390 ha. Mặc dù diện tích nuôi tôm tăng 71 ha so với năm trước, nhưng do tình hình dịch bệnh, ảnh hưởng lũ lụt nên sản lượng khoảng 2.950 tấn, xấp xỉ so với năm 2006. Diện tích nuôi các nước ngọt gần 5.000 ha, sản lượng trên 5.000 tấn, tăng 45%.
Trong sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiến trên 70% trong tổng giá trị toàn toàn ngành, nên kết quả đạt được của ngành trồng trọt năm 2007 góp phần chính để duy trì và xấp xỉ hoàn thành kế hoạch về giá trị tuyệt đối trong sản xuất của toàn ngành nông lâm ngư nghiệp.
1.4. Đầu tư và xây dựng đạt được những kết quả nhất định:
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2007 thực hiện 5.712 tỷ đồng, bằng 87% kế hoạch. Trong đó nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 1.780 tỷ đồng, tăng 9,6%; nguồn vốn ngoài nhà nước trên 1.640 tỷ đồng, xấp xỉ bằng năm 2006; Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 800 tỷ đồng, tăng trên 29,5%. Trong năm đã khởi công nhiều công trình trọng điểm trên địa bàn bằng nhiều nguồn vốn, tuy nhiên do một số công trình chậm tiến độ, tình hình mưa lũ diễn biến phức tạp, thiệt hại lớn, nên chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội chưa đạt so với kế hoạch.  
Đăng ký cấp phép được 550 doanh nghiệp trong nước, với tổng vốn đăng ký gần 3.000 tỷ đồng. Toàn tỉnh, đã thu hút và cấp 17 giấp phép đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký gần 188 triệu USD, quyết định thu hồi 32 giấy phép do các nhà đầu tư không thực hiện đúng các cam kết. Như vậy đến nay, ngoài các dự án đã thu hồi giấy phép, trên địa bàn toàn tỉnh đã có 70 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 570 triệu USD. Trong thời gian đến tiếp tục rà soát và thu hồi các dự án không thực hiện đúng cam kết.
Xúc tiến hình thành các cơ chế chính sách mới và triển khai thực hiện các cơ chế chính sách đã ban hành của Chính phủ và của tỉnh về Khu Kinh tế mở Chu Lai. Đặc biệt là việc triển khai thực hiện Cơ chế khuyến khích đầu tư; Qui chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao lại đất, cho thuê đất thuộc thẩm quyền; thỏa thuận ký quĩ bảo đảm thực hiện đầu tư; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư ngày một thiết thực hơn; phối hợp với các địa phương liên quan đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư, nhất là đối với các dự án quan trọng. Đồng thời tiếp tục làm việc với các Bộ ngành TW chủ yếu trên các lĩnh vực về qui hoạch và điều chỉnh qui hoạch để trình Chính phủ ban hành làm cơ sở pháp lý trong quá trình triển khai thực hiện và thúc đẩy phát triển. Trong năm, đã có hơn 60 nhà đầu tư trong và ngoài nước đến khảo sát, tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Khu Kinh tế mở, trong đó có các nhà đầu tư đến từ các quốc gia và các tập đoàn kinh tế lớn. Đã có 21 dự án đăng ký đầu tư vào Khu Kinh tế mở, trong đó cấp phép đầu tư 13 dự án với tổng vốn gần 290 triệu USD. Như vậy đến nay, đã có 60 dự án đầu tư vào Khu kinh tế mở Chu Lai với tổng vốn đăng ký gần 1.200 triệu USD, trong đó đã cấp phép đầu tư 49 dự án với tổng vốn đăng ký gần 600 triệu USD. Hiện nay đã có 23 dự án đang đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tổng nguồn vốn thực hiện ước khoảng 80 triệu USD.
1.5. Thu, chi ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển.
Kết quả thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 1.216 tỷ đồng. Trong đó thu nội địa 800 tỷ đồng, vượt trên 114 tỷ đồng so với dự toán năm và tăng trên 17% so với năm 2006; Thu tiền sử dụng đất 165 tỷ đồng tăng gần 18% so với dự toán; thu xuất nhập khẩu 290 tỷ đồng, bằng gần 61% dự toán; thu để lại quản lý qua ngân sách 126 tỷ đồng, bằng dự toán năm. Chi ngân sách địa phương 3.991 tỷ đồng. Trong đó chi đầu tư phát triển trên 1.800 tỷ đồng; chi thường xuyên gần 1.980 tỷ đồng.
2. Văn hóa xã hội tiếp tục được chú trọng và đạt một số kết quả nhất định:
Toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn về phổ cập Tiểu học và chống mù chữ, trong đó 227/236 xã, phường, thị trấn phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi, đạt 96%; 215 xã đạt chuẩn về phổ cập THCS, bằng 91% tổng số xã.
Đã đầu tư hơn 100 tỷ đồng xây dựng, sửa chữa phòng học, mua sắm trang thiết bị phục vụ dạy và học trong năm học 2007 - 2008. Xây mới 269 phòng học, sửa chữa 97 phòng, góp phần đáp ứng nhu cầu thêm trường mới và thay thế phòng học tạm. Đã có 183 trường Mần non, Tiểu học, THCS được Bộ Giáo dục và Đào tạo và UBND tỉnh kiểm tra, công nhận đạt chẩn quốc gia, tăng 28 trường so với năm học trước. Qua rà soát trên địa bàn còn 1.935 phòng học tạm cần phải được thay thế theo tiêu chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trên địa bàn toàn tỉnh đã hình thành 02 trường đại học, 04 trường Cao Đẳng, 04 trường Trung học chuyên nghiệp. Như vậy về cơ bản đã giải quyết một phần nhu cầu học tập và đào tạo. Tuy nhiên cần tiếp tục tăng cường và nâng cao hơn nữa chất lượng và công tác quản lý đào tạo.
Các ngành, địa phương đã tổ chức nhiều hoạt đồng sôi nổi, phục vụ các ngày lễ, các sự kiện lớn của đất nước, của tỉnh. Đã tổ chức tốt các nhiệm vụ chính trị tuyên truyền và thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII và bầu cử bổ sung đại biểu HĐND tỉnh; lễ hội giao lưu văn hóa Việt – Nhật; các hoạt động văn hóa – du lịch phục vụ lễ hội Quảng Nam - Hành trình di sản năm 2007 với chủ đề “Hội ngộ các di sản Đông Dương” với qui mô liên kết khu vực và quốc tế đã được chuẩn bị chu đáo và tổ chức thành công.
Hoạt động trên các lĩnh vực bưu chính, viễn thông phát triển khá và ổn định, đã có 06 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên địa bàn. Về cơ bản đã phủ sóng đến tất cả các huyện, nâng tổng số lên gần 432.000 thuê bao điện thoại cả cố định và di động, gần 8.000 thuê bao Internet góp phần đưa mật độ điện thoại bình quân lên gần 30 máy /100 dân; tỷ lệ người dân sử dụng Internet trên 2,1%. Phát triển 430 điểm phục vụ mạng bưu chính, trong đó có 65 bưu cục, 155 điểm bưu điện văn hóa xã, 150 điểm công cộng, bình quân 5.240 người dân / điểm phục vụ, với bán kính bình quân trên 3,4 km / 01 điểm. Công tác thông tin liên lạc trong mùa mưa lũ được đảm bảo.
Đã thẩm định hồ sơ, lập thủ tục đề nghị trợ cấp, xác nhận giải quyết chế độ cho gần 24.950 trường hợp hưởng chính sách người có công. Vận động ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa gần 04 tỷ đồng, xây mới trên 1.600 nhà tình nghĩa; hỗ trợ xây gần 1.600 mộ liệt sĩ do gia đình quản lý; tổ chức tìm kiếm và qui tập 70 hài cốt liệt sĩ. Hoàn thành việc điều tra khảo sát đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP với kết quả xác định toàn tỉnh có 47.317 đối tượng thuộc diện được hưởng chế độ trợ cấp. Thực hiện tốt chương trình hành động kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sĩ.
Phối hợp rà soát và cấp trên 320 ngàn thẻ bảo hiểm y tế, thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo, người từ đủ 90 tuổi trở lên, người thuộc diện cứu trợ thường xuyên tại cộng đồng và người dân tại các xã đặc biệt khó khăn. Cấp 3.000 giấy xác nhận cho học sinh, sinh viên là đối tượng hộ nghèo năm học 2007 – 2008.
Đã tổ chức tiêm chủng 07 loại vắc xin phòng các biện nguy hiểm với tổng số trẻ em tiêm đủ 07 loại vắc xin trên 70%. Tổ chức kiểm tra trên 11.000 cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, qua kiểm tra, chỉ có gần 67% số cơ sở đạt tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui định. 
 3. Về thực hiện một số chương trình phát triển nông thôn và miền núi:
Kết cấu hạ tầng nông thôn, miền núi tiếp tục được đầu tư. Thực hiện đầu tư 20 tuyến đường giao thông đến 23 trung tâm các xã chưa có đường ô tô và 05 công trình thủy lợi (hồ chứa) bằng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ với tổng nguồn vốn được bố trí qua 2 năm 2006 – 2007 là 423 tỷ đồng. Trong đó riêng các tuyến giao thông đến các xã chưa có đường ô tô trên 365 tỷ đồng, dự kiến đầu năm 2008, một số công trình sẽ đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, nguồn vốn trên chỉ cân đối bố trí 1/3 so với tổng dự toán được duyệt. Hiện nay đang tích cực làm việc với Bộ ngành TW và kiến nghị Chính phủ bổ sung nguồn vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, tăng mức hỗ trợ và suất đầu tư để tiếp tục đầu tư phần mặt đường nhằm hạn chế xói lở, đảm bảo phát huy hiệu quả đầu tư.
Đối với hai chương trình 134, 135 năm 2007 đã hỗ trợ đầu tư khu vực miền núi 144 tỷ đồng. Trong đó chương trình 134 tiếp tục thực hiện nội dung chủ yếu trong năm là xóa nhà tạm, đã hỗ trợ xóa 3.600 ngôi nhà tạm; triển khai xây dựng 44 công trình nước sinh hoạt tập trung. Như vậy qua 3 năm thực hiện chương trình với tổng nguồn vốn TW phân bổ, chưa kể nguồn vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh là 138 tỷ đồng, đã hỗ trợ xóa gần 12.200/15.246 nhà tạm; khai hoang trên 100 ha đất sản xuất; 66 công trình nước sinh hoạt tập trung và hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho hơn 620 hộ. Ngoài ra, năm 2007 cũng tập trung hỗ trợ gần 19 tỷ đồng để đào tạo nâng cao năng lực cán bộ; phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; trợ giá, trợ cước cho đồng bào khu vực miền núi. Ngoài hai chương trình trên, thực hiện chương trình theo Nghị Quyết 39 của Bộ Chính trị, riêng năm 2007 đã cân đối cho 08 huyện khu vực miền núi gần 22 tỷ đồng, nâng tổng số qua 02 năm thực hiện nguồn vốn chương trình này lên gần 60 tỷ đồng để lồng ghép với các chương trình, tăng thêm nguồn vốn đầu tư cho các huyện miền núi.
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của lũ lụt, dịch bệnh gia súc, gia cầm, sự biến động của giá cả thị trường nên một số khu vực vẫn còn gặp khó khăn. Một số hộ thuộc diện xóa nhà tạm chương trình 134 quá nghèo, già cả, neo đơn không đủ nguồn lực tham gia thêm nên tiến độ thực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu. Việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, xây dựng các khu tái định cư thuộc các dự án thủy điện còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu tái định cư gắn với sản xuất, đảm bảo đời sống lâu dài. Kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế một số vùng nông thôn, miền núi còn gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn đến công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
4. Công tác Quốc phòng - An ninh, nội chính, trật tự án toàn xã hội:
Phối hợp tổ chức và thực hiện thành công cuộc diễn tập phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2007. Chuẩn bị các thủ tục để triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm quản lý và cảnh báo lũ lụt trên địa bàn. Tình hình biên giới và công tác tuần tra biên giới được đảm bảo. Công tác quân sự địa phương triển khai đúng tiến độ. Hoàn thành tốt công tác gọi công dân nhập ngũ. Tổ chức phòng thủ, huấn luyện, diễn tập theo Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị. Thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, chính sách hậu phương quân đội và công tác dân vận. Các biện pháp đảm bảo an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội trong các ngày lễ được tăng cường.
Đã tiến hành triển khai thực hiện 157 cuộc thanh tra, trong đó đã kết thúc thanh tra 146 cuộc. Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm trong quản lý kinh tế với tổng số tiền trên 14,4 tỷ đồng và trên 3,4 triệu m2 đất nông lâm nghiệp và đất ở tại 266 đơn vị sai phạm. Kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 08 tỷ đồng và trên 3,4 trệu m2 đất các loại; kiến nghị xử lý hành chính 80 người, xử lý hình sự 03 vụ.
Các cơ quan nhà nước của tỉnh đã tiếp nhận 2.779 đơn khiếu nại và 128 đơn tố cáo. Trong đó, số vụ khiếu nại lĩnh vực hành chính thuộc thẩm quyền là 1.062 vụ, đã giải quyết 957 vụ, chiếm trên 90%. Tình hình tiếp nhận đơn thư khiếu – tố tăng so với năm trước, chủ yếu tập trung lĩnh vực đất đai, bồi thường, chế độ chính sách, quản lý ngân sách nhà nước.
So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giao thông giảm, tuy nhiên số vụ tai nạn, số người chết và bị thương vẫn còn ở mức cao.
5. Tình hình thiên tai :
Thiệt hại do lũ lụt là rất nặng nề. Đã xảy ra 04 đợt lũ liên tiếp trong vòng một tháng, trong đó có đợt lũ lớn lịch sử. Mặc dù đã tập trung phòng chống, sẵn sàng công tác tìm kiếm, cứu nạn và khắc phục hậu quả nhưng do mưa lớn, lũ quét với cường độ mạnh ở nhiều nơi đã làm 125/236 xã bị ngập lụt, nhiều khu vực dân cư ngập từ 2 đến 5 mét. Toàn tỉnh đã có 42 người chết, 165 người bị thương qua các đợt lũ. Hơn 200.000 nhà dân, trường học, bệnh xá, cơ quan và địa phương bị cô lập dài ngày, nhất là khu vực miền núi và ven sông Thu Bồn, Vu Gia. 9.600 ngôi nhà, phòng học và trạm y tế bị siêu vẹo, sập đổ và cuốn trôi. 25.000 tấn lương thực hư hỏng và cuối trôi; 5.000 ha màu, 500.000 cây lâm nghiệp bị hư hỏng. 5.000 ha ruộng bị bồi đắp, sạt lở; 50 tàu cá bị chìm, trôi mất tích. 5.000 mét kè, kênh mương bị sạt lở, hư hại; Tổng khối lượng bê tông, đất, đá sạt lở trên các tuyến giao thông và các công trình thủy lợi, thủy sản trên 900.000 m3. Hơn 700 cầu cống các loại và công trình nước sạch nông thôn hư hỏng. Tình hình sạt lở xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi, hầu hết các tuyến đường khu vực miền núi như đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 14B, 14D, 14E bị sạt lở; nhiều công trình thủy lợi quan trọng như đập Đại Cường, hồ chứa nước Trà Cân bị hư hại nặng. Tổng thiệt hại vật chất của các đợt lũ trên 1.600 tỷ đồng.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã hỗ trợ trước mắt cho các gia đình bị thiệt hại do lũ gây ra, đặc biệt đối với các gia đình có người chết và mất tích, gia đình có nhà bị sập, tài sản bị trôi. Tuy nhiên thiệt hại do lũ lụt gây ra là quá lớn và cần phải khắc phụ lâu dài, UBND tỉnh đã kiến nghị Trung ương hỗ trợ khắc phục để ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân.
II. Những tồn tại hạn chế:
1. Mặc dù tốc độ tăng trưởng nền kinh tế (GDP) năm 2007 cũng như nhiều năm trở lại đây đều ở mức tăng khá nhưng cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, nhất là ngành dịch vụ. Qua 3 năm (2004 – 2007) tỷ trọng cơ cấu của ngành dịch vụ trong GDP tăng chưa đến 1,4%. Một số chỉ tiêu tuy có tăng nhưng chưa đạt mức kế hoạch như: Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp (98,3% KH), Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (87% KH). Thu nội địa vượt cao so với dự toán, nhưng thu thuế xuất nhập khẩu thực hiện thấp, bằng 61% dự toán năm. Giải ngân trong xây dựng cơ bản chưa đạt tiến độ.
2. Việc bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ xây dựng hạ tầng giúp đỡ nhân dân trong các vùng dự án thủy điện tái định cư còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu tái định cư gắn với sản xuất, đảm bảo đời sống lâu dài. Các giải pháp giảm nghèo ở miền núi còn lúng túng. Kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục một số vùng nông thôn, miền núi còn gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn đến công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
3. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục còn chậm. Một số ngành, cơ sở đào tạo chưa gắn yêu cầu sử dụng lao động với cơ cấu ngành nghề và chất lượng đào tạo.
4. Công tác quản lý môi trường, tài nguyên còn hạn chế, việc khai thác tùy tiện các khoáng sản như: vật liệu xây dựng, ti tan, vàng sa khoáng vẫn còn tiếp diễn. Số vụ chặt phá rừng còn ở mức cao, chưa được ngăn chặn triệt để, có nơi xảy ra nghiêm trọng. Đã xảy ra 210 vụ chặt phá rừng trái phép.  
5. Mặc dù đã tập trung quyết liệt để hạn chế thấp nhất thiệt hại do các đợt lũ lụt gây ra, nhưng hậu quả thiên tai để lại nặng nề. Dịch bệnh gia súc, gia cầm đã được khống chế, nhưng vẫn còn tiềm ẩn những nguy cơ bùng phát. Dịch hội chứng loạn hô hấp và sinh sản ở lợn diễn biến phức tạp, thiệt hại trực tiếp đến ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến một số ngành khác.
*     *

Tác giả: Trần Văn Hậu

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

Đăng nhập

Người phát ngôn thông tin báo chí

Họ tên: Văn Anh Tuấn
Chức vụ: Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Số điện thoại: 0903589323
Email: vananhtuanqn@gmail.com








Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
Địa chỉ: 62 Hùng Vương, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT: 02353.852739. Fax: 02353.852748. Email: vpubnd@quangnam.gov.vn
Trưởng Ban điều hành: ông Văn Anh Tuấn, Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Ghi rõ nguồn "Văn phòng Ủy ban tỉnh Quảng Nam" khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này

Tổng số lượt truy cập
Design by QTI