Thứ năm, 14/05/2015, 10:06:10
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Tình hình KTXH tháng 10, 10 tháng và nhiệm vụ công tác trọng tâm tháng 11 năm 2008

Lượt xem: 2117

I- CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH.
 
Trong tháng 10 năm 2008, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành và địa phương đánh giá sát đúng với tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong 9 tháng đầu năm tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhất là các chỉ tiêu đạt thấp. Đồng thời rà soát việc xây dựng các đề án, văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện có hiệu quả chương trình công tác năm 2008 của UBND tỉnh. Tiếp tục rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán thu, chi ngân sách năm 2009 để trình HĐND cùng cấp theo quy định.
 
Chỉ đạo các ngành và địa phương tập trung công tác phòng chống bão lụt, di dời dân ra khỏi vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân; tăng cường kiểm tra đảm bảo an toàn các hồ, đập trên địa bàn,…. Chỉ đạo các ngành, địa phương khẩn trương khắc phục nhanh hậu quả do 2 đợt lũ liên tiếp xảy ra từ ngày 10 đến ngày 18 tháng 10 vừa qua, kịp thời hỗ trợ cho các hộ dân, các gia đình có người chết… sớm ổn định cuộc sống và sản xuất; tổ chức sản xuất vụ Đông ở những nơi có điều kiện. Đẩy mạnh công tác trồng rừng năm 2008.
 
Chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh tiếp tục thực hiện lộ trình cổ phần hóa. Tổ chức gặp mặt các doanh nhân tiêu biểu trên địa bàn tỉnh nhân kỷ niệm ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10). Tập trung tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát triển du lịch, dịch vụ và xuất khẩu nhằm góp phần đảm bảo ổn định tăng trưởng kinh tế của tỉnh vào những tháng cuối năm;
 
 Tiếp tục chỉ đạo các ngành và địa phương rà soát, điều chỉnh bổ sung và quản lý tốt quy hoạch; đẩy mạnh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư tại Khu kinh tế mở Chu Lai, các khu cụm công nghiệp, vùng Đông của tỉnh, dự án hồ Đông Tiển, các công trình thủy điện, giao thông…để triển khai các dự án. Tiếp tục rà soát và kiểm tra các dự án công trình xây dựng cơ bản đã ghi vốn nhưng không triển khai để có biện pháp xử lý phù hợp, hiệu quả; đồng thời xây dựng danh mục đầu tư để chủ động bố trí kế hoạch vốn năm 2009;
 
          Chỉ đạo các ngành và địa phương tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp góp phần kiềm chế lạm phát, trong đó đẩy mạnh công tác thu ngân sách, thực hành tiết kiệm, đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý thị trường giá cả, chống đầu cơ găm hàng, nâng giá và gian lận thương mại; có kế hoạch chuẩn bị đầy đủ hàng hóa để phục vụ Tết Kỷ Sửu cho nhân dân.
 
          Trên lĩnh vực văn hóa xã hội đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các chương trình xã hội hóa trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Nâng cao chất lượng giáo dục ở các đơn vị trường học. Chỉ đạo ngành giáo dục và các địa phương đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng trường học trong Chương trình kiên cố hóa trường lớp, học từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ mà UBND tỉnh đã phân bổ. Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới y tế ở cơ sở, thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; quan tâm đến việc khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi; triển khai các phương án phòng trừ dịch bệnh mùa mưa, tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; chú trọng công tác dân số và gia đình, tuyên truyền vận động thực hiện tốt Luật chống bạo lực trong gia đình.
 
          Chỉ đạo các địa phương tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; các chính sách đối với người có công cách mạng, nhất là việc rà soát các đối tượng tham gia trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng chưa được hưởng chính sách của Nhà nước;
 
Tiếp tục triển khai các chương trình phát triển kinh tế xã hội miền núi, đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành việc xây dựng nhà ở thuộc chương trình 134 cho đồng bào dân tộc nghèo ở các huyện miền núi trong năm 2008. Có phương án dự trữ lương thực, hàng hóa thiết yếu, thuốc chữa bệnh để phục vụ cho đồng bào các huyện miền núi trong mùa mưa, nhất là các vùng bị chia cắt khi lũ lụt xảy ra.
 
Chỉ đạo các ngành và địa phương đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính; ban hành các danh mục xử lý công việc theo cơ chế “1 cửa”, “1 cửa liên thông” tại các cơ quan, đơn vị. Chỉ đạo ngành Thanh tra tỉnh tổ chức thanh tra theo kế hoạch; thành lập Đoàn Thanh tra về những nội dung mà báo chí đã đề cập, phản ánh tại Ban Quản lý dự án điện ODA của tỉnh. Chỉ đạo ngành GT-VT, Công an tỉnh sơ kết tháng an toàn giao thông; tình hình thực hiện Quyết định 1856/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ở giai đoạn 1, tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát nhằm kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông ở những tháng cuối năm và tiếp tục triển khai công tác giải tỏa hành lang tuyến đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch;
 
Chỉ đạo các ngành chức năng và địa phương tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, chấn chỉnh việc cấp phép khai thác các loại khoáng sản, truy quét và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân khai thác các loại khoáng sản trái phép làm ảnh hưởng đến môi trường, sạt lở các bờ sông trên địa bàn tỉnh.
 
Chỉ đạo các ngành liên quan chuẩn bị tốt các nội dung UBND tỉnh trình tại kỳ họp thứ 20 HĐND tỉnh khóa VII sắp tới; tăng cường công tác tiếp công dân, xử lý các vụ việc tồn đọng, không để xảy ra khiếu kiện đông người, vượt cấp, nhất là đang thời điểm diễn ra kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII. Đặt biệt là tập trung giải quyết, trả lời những ý kiến, kiến nghị của cử tri theo yêu cầu của Thường trực HĐND tỉnh và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh trong các lần tiếp xúc cử tri tại các địa phương.
 
Trong tháng 10, UBND tỉnh đã tổ chức một số hội nghị quan trọng như: Hội nghị tổng kết công tác chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản từ 2005-2008 và định hướng phát triển đến năm 2010; hội nghị sơ kết 20 năm ngày Biên phòng toàn dân; hội nghị sơ kết thực hiện Quyết định 107 về công tác phối hợp giữa Quân sự- Công an và Bộ đội Biên phòng trong việc bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
 
UBND tỉnh đã đi kiểm tra và làm việc với một số địa phương về tình hình hình thực hiện NĐ 67 của Chính phủ và QĐ 289 của Thủ tướng Chính phủ; về tình hình sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… theo kế hoạch của Tỉnh ủy; về công tác quản lý, bảo vệ rừng tại một số địa phương miền núi…Làm việc với một số ngành về tình hình thực hiện nhiệm vụ 2008, định hướng kế hoạch 2009. Tiếp và làm việc với một số nhà đầu tư, các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước đến tìm hiểu cơ hội đầu tư vào Quảng Nam.
 
UBND tỉnh dự một số hội nghị, hội thảo quan trọng do Chính phủ, các Bộngành và Tỉnh ủy tổ chức; đi thăm và dự gặp mặt nhân các ngày kỷ niệm ngày Quốc tế người cao tuổi (1/10); ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10)…78 năm ngày thành lập ngành Kiểm tra Đảng (16/10), Hội Nông dân Việt Nam (14/10), ngày truyền thống Văn phòng cấp ủy; kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Công ty Cao su Quảng Nam (1998-2008).
 
Đánh giá chung: Trong tháng 10, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các ngành, địa phương triển khai thực hiện tốt một số nhiệm vụ đã đề ra. Tuy nhiên, công tác bồi thường, tái định cư, cổ phần hóa, vấn đề thuộc lĩnh vực nhà ở, đất đai, môi trường vẫn còn nhiều vướng mắc, khó khăn kéo dài chưa tập trung xử lý, giải quyết tốt hơn. Thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các đối tượng xã hội, các hộ ngư dân chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Tiến độ giải ngân các nguồn vốn xây dựng cơ bản từ các Chương trình mục tiêu, Trái phiếu Chính phủ còn chậm. Việc tuyên truyền cho người dân tự quản lý tại gia đình chưa tốt nên tình trạng người chết còn nhiều khi xảy ra mưa lũ.
 
 
II. TÌNH HÌNH THỰC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
 KT-XH THÁNG 10, 10 THÁNG NĂM 2008.
 
          1. Về kinh tế
1.1 Hoạt động sản xuất công nghiệp:
Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định) tháng 10 thực hiện 586 tỷ đồng; giảm 1% so tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, giá trị sản xuất ước đạt 5.425,6 tỷ đồng; tăng 27,03% so cùng kỳ năm trước và đạt 80,5%KH năm (Khu vực kinh tế nhà nước giảm 0,37%; kinh tế ngoài nhà nước tăng 19% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng hơn 2 lần).
Một số sản phẩm công nghiệp đạt tốc độ tăng khá so với cùng kỳ như: Sản phẩm vàng khai thác 464 kg, tăng 23,7%; bia chai tăng gần 78%; quần áo may sẵn 31%; dệt vải các loại tăng gần 41%; giầy các loại và sản phẩm từ da tăng 89%; thép cán tăng 35%; ô tô lắp ráp gần 15.153 chiếc, gấp 1,8 lần so với cùng kỳ... Các địa phương có giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ như: Duy Xuyên tăng gần 22,6%; Tam Kỳ tăng gần 30,4%; Quế Sơn tăng 27,3%, Núi Thành tăng 47,3%...
1.2. Hoạt động Thương mại, du lịch, xuất khẩu:
Tổng mức bán lẻ tháng 10 thực hiện 776 tỷ đồng tăng 36% so với cùng kỳ. Nâng tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ 10 tháng đầu năm 2008 ước đạt 7.341 tỷ đồng, tăng 42,3% cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó ngành thương nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất 72%, tăng 46%; hoạt động khách sạn - nhà tăng 34%; dịch vụ tăng 35%; du lịch lữ hành tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước.
           Hoạt động vận tải trong 10 tháng đầu năm đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Khối lượng vận chuyển hàng hóa 10 tháng đạt 4,3 triệu tấn, tăng gần 27% so với cùng kỳ; khối lượng vận chuyển hành khách 6,15 triệu lượt, tăng 30% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa bốc xếp thông qua cảng đạt 362,4 nghìn tấn, giảm 21,3% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu vận tải ước đạt 332,3 tỷ đồng tăng 21,6%, trong đó doanh thu hàng hoá tăng 30%, doanh thu hành khách tăng 12,5% và doanh thu qua cảng giảm 5,7% so với cùng kỳ .
Do bước vào mùa mưa bão nên các hoạt động về du lịch trong tháng 10 ít nhiều cũng ảnh hưởng, tuy vậy lượng khách tham quan, lưu trú vẫn đảm bảo tốc độ tăng 24% so với tháng 10 năm trước. Tổng lượt khách tham quan và lưu trú 10 tháng trên địa bàn 1,86 triệu lượt. Trong đó khách lưu trú 588 ngàn lượt, tăng trên 16,7% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động khách sạn nhà hàng 10 tháng thực hiện 1.745 tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 ước thực hiện 16,3 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu mạnh trong tháng là thuỷ hải sản, sản phẩm may mặc, sản phẩm da giày, sản phẩm bằng gỗ, nguyên liệu giấy, tinh bột sắn, cát khuôn đúc… tính chung 10 tháng đầu năm ước thực hiện 198,4 triệu USD, đạt 90,18% so với kế hoạch và tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó hàng Nông - Lâm sản ước đạt 21,85 triệu USD, hàng Thủy sản ước đạt 25,03 triệu USD, hàng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước đạt 151,51 triệu USD. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng xuất khẩu với tổng kim ngạch chiếm khoảng 45% và đạt giá trị khoảng 89 triệu USD. Các mặt hàng có giá trị xuất khẩu khá và tăng cao như: giầy da (tăng 45%), dệt may (tăng 64%), sản phẩm gỗ (tăng 23%), cát trắng (tăng 92%),...
Do nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị, hàng tư liệu phục vụ sản xuất, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nên kim ngạch nhập khẩu 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ ước thực hiện 334,2 triệu USD, đạt 135,4% kế hoạch, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhạp khẩu có khối lượng và giá trị lớn như: linh kiện ô tô (99 triệu USD tăng 71,5%), phụ liệu may mặc (19 triệu USD tăng 181%), riêng máy móc thiết bị phụ tùng khác đạt 110,4 triệu USD gấp 8 lần so với cùng kỳ năm 2007, dự báo giá trị nhập khẩu có xu hướng tiếp tục tăng cao trong các tháng còn lại của năm.
          - Giá cả, thị trường: theo số liệu của Cục Thống kê Quảng Nam sau một thời gian tăng cao (từ tháng 6 đến tháng 9), đến tháng 10 chỉ số giá tiêu dùng đã giảm khoảng 0,27 so với tháng trước và tăng 20,16% so với tháng 12/2007. Chỉ số giá vàng tháng 10/2008 tăng 4,46 % so tháng trước và tăng khoảng 26,42% so với tháng 12/2007. Chỉ số giá đôla Mỹ tăng nhẹ 0,22 % so tháng trước và tăng 3,18 % so tháng 12/2007.        
1.3. Sản xuất nông nghiệp:
Về nông nghiệp: tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2008 đạt 156.846 ha, tăng 0,25% so với năm 2007. Sản lượng cây lương thực có hạt cả năm ước thực hiện trên 436 nghìn tấn, đạt 98,9% so với kế hoạch, giảm khoảng 10 ngàn tấn so với năm 2007.
Chăn nuôi: Dịch bệnh trên các đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn tỉnh đã đã được, khống chế, ngăn chặn; công tác tiêm phòng nhằm ngăn ngừa dịch bệnh vẫn được triển khai thường xuyên, đến nay đã cung cấp trên 36,5 ngàn liều vắc xin LMLM và hơn 2,2 triệu liều vắc xin phòng bệnh cúm cho đàn gia cầm. Đàn gia súc và gia cầm bắt đầu phục hồi.
Lâm nghiệp: Đến nay, diện tích trồng rừng đạt 6.756ha đạt 65% kế hoạch. Phong trào trồng rừng trong nhân dân tiếp tục phát triển, đạt khoảng 3 ngàn ha rừng tập trung và khoảng 12,5 triệu cây phân tán tăng 26% so năm 2007. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng 10 tháng thực hiện 183.000 m3, tăng gần 31,7% so với cùng kỳ, chủ yếu phục vụ nguồn nguyên liệu giấy và chế biến khác.
Thủy sản: Do ảnh hưởng của bảo số 8 nên thời gian ra khơi của các tàu thuyền ngắn, sản lượng khai thác trong tháng không cao, ước đạt khoảng trên 2.140 tấn. Tính chung 10 tháng, sản lượng khai thác thực hiện 49.710 tấn, bằng 99,4% kế hoạch, tăng 1,1% so với cùng kỳ. Diện tích nuôi thủy sản nước lợ năm 2008 ước thực hiện 1.993ha sản lượng tôm nuôi cả năm ước khoảng 7000 tấn, đạt 192% kế hoạch.
 
1.4. Đầu tư và xây dựng:
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 thực hiện được 116,5 tỷ đồng giảm 8,8% so với tháng trước và khoảng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng thực hiện được gần 1.468 tỷ đồng, bằng 82% kế hoạch năm, giảm 11% so với cùng kỳ. Trong đó vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách thực hiện 1.220 tỷ đồng đạt 94,5% kế hoạch năm, giảm 8,4% so với cùng kỳ.
Về thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản: theo báo cáo của Kho bạc Nhà nước Quảng Nam đến 30/9/2007 ngân sách cấp tỉnh quản lý giải ngân hơn 53%; ngân sách cấp huyện, thị xã, thành phố giải ngân 49% và cấp xã phường quản lý giải ngân 70% dự toán năm. Nhìn chung tình hình giải ngân kế hoạch vốn năm 2008 là tương đối chậm (ngân sách tỉnh vẫn còn khoảng 162 danh mục dự án đạt tỷ lệ giải ngân 0%, trong đó 27 dự án chưa gửi hồ sơ).
 
Về thu hút vốn đầu tư:trong tháng 10 đã thực hiện cấp đăng ký đầu tư cho 01 dự án với tổng mức đầu tư 7 triệu USD. Tuy nhiên do một số nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án chậm, không đảm bảo tiến độ, trong tháng 10/2008 UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện thu hồi giấy đăng ký đầu tư của 01 dự án, với vốn đăng ký 8 triệu USD. Tính đến cuối tháng 10/2008 toàn tỉnh đã thu hút được 69 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký khoảng 747,3 triệu USD;
 
Đăng ký kinh doanh: trong tháng 10, đã thực hiện cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 45doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đăng ký gần 32 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trên địa bàn 10 tháng là 476 DN với tổng vốn đăng ký 3.582 tỷ đồng, đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 3.133 doanh nghiệp được cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng vốn đăng ký 12.900 tỷ đồng.
1.5. Thu, chi ngân sách.
Kết quả thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện lũy kế đến cuối tháng 10/2008 là 1.570,8 tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với cùng kỳ và đạt 111,2% dự toán năm. Trong đó: thu nội địa 1.039,8 tỷ đồng, gấp 1,4 lần so với cùng kỳ, đạt 109,46%; thu xuất nhập khẩu 416,3 tỷ đồng, gấp gần 1,5 lần so với cùng kỳ, đạt 126,16%; thu để lại quản lý qua ngân sách 114,7 tỷ đồng, đạt 86,55% dự toán năm. Thu ngân sách địa phương ước thực hiện lũy kế đến cuối tháng 10/2008 là 3.810 tỷ đồng, đạt 122,48% dự toán năm và tăng 16% so với cùng kỳ.
          Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện lũy kế đến cuối tháng 10/2008 là 2.889 tỷ đồng, đạt 92,89% dự toán năm, tăng 21% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.068,4 tỷ đồng, đạt 100,22%; chi thường xuyên 1.687,1 tỷ đồng, đạt 92,04%.
 
2. Về Văn hóa xã hội:
Về giáo dục đào tạo: Đến nay, toàn tỉnh có 204 trường được Bộ giao dục công nhân đạt chuẩn Quốc gia tăng 16 trường so với năm 2007. Trong tháng 10, Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Quảng Nam tổ chức khai giảng với 900 học sinh hệ cao đẳng và 2.300 học sinh hệ trung cấp, 480 học sinh hệ vừa học vừa làm; Trường Cao đẳng y tế Quảng Nam hệ cao đẳng 300 học sinh. Công tác đào tạo nghề tiếp tục được sự quan tâm của các ngành các cấp, tính từ đầu năm đến nay, số lượng học viên tốt nghiệp các khoá đào tạo nghề: 23.955 người, trong đó dạy nghề trình độ trung cấp: 1.285 người, dạy nghề trình độ sơ cấp: 11.638 người và dạy nghề theo hình thức thường xuyên: 11.032 người.
Về Y tế: Tiếp tục đẩy mạnh các chương trình y tế quốc gia, phòng chống dịch bệnh. Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn. Củng cố và nâng cao chất lượng mạng lưới phòng, chống nhiễm HIV/AIDS ở tuyến xã, phường, thị trấn.
Lao động- Thương binh và Xã hội:
Trong tháng 10 đã giải quyết việc làm: 2.812 lao động, trong đó xuất khẩu lao động: 21 lao động; xét duyệt 162 dự án vay vốn 2,150 tỷ đồng, giải quyết việc làm: 421 lao động; nâng tổng số lao động được giải quyết việc làm 10 tháng: 31.576 lao động đạt 85,3%KH, trong đó xuất khẩu lao động: 157 lao động, thông qua 1.126 dự án vay vốn giải quyết việc làm: 4.185 lao động.
Tiếp tục hướng dẫn các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch hỗ trợ cải thiện nhà ở và các chế độ chính sách cho các đối tượng thuộc diện người có công: nhà ở người có công (672 nhà); giải quyết các chế độ chính sách cho gần 3.500 trường hợp như: trợ cấp đối với người có công giúp đỡ cách mạng, trợ cấp một lần thân nhân người có công cách mạng chết trước 01/01/1995, người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học, điều dưỡng người có công…
Thông tin - truyền thông: trong tháng 10 công tác thanh tra kiểm tra được tăng cường như: việc xây dựng các xây dựng website, ứng dụng trang thông tin điện tử trong công tác quản lý Nhà nước; xuất bản phẩm tại các điểm phát hành sách; các doanh nghiệp, trung tâm, các đại lý được ủy quyền của các doanh nghiệp về dịch vụ thuê bao trả trước theo chỉ đạo của Bộ TT&TT tại Quyết định số 03/2007/BTTTT. Ngành viễn thông tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng. Tính đến tháng 9, toàn tỉnh đã phát triển được 21.333 thuê bao điện thoại ( trong đó số thuê bao cố định phát triển được là 2.163, số thuê bao di động phát triển được là 19.170), nâng tổng số thuê bao điện thaọi trong toàn tỉnh là 672.996 thuê bao (trong đó số thuê bao cố đinh là 153.879, số thuê bao di động là 519.117). Phát triển được 609 thuê bao Internet nâng tổng số thuê bao Internet hiện có là 17.698.
3. Tình hình thiệt hại do mưa lũ và biện pháp khắc phục:
Từ ngày 10 đến 18/10/2007, có 02 đợt mưa lớn đã xảy ra trên địa bàn, lũ các sông lên nhanh, vượt trên báo động III từ 40 cm đến 50 cm gây lũ lụt, úng ngập sâu nhiều địa phương đã gây thiệt hại đáng kể về người và vật chất tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh đã có 14 người chết, 13.570 căn nhà và 20 trường học bệnh xá bị ngập nước; gần 2.500 ha hoa màu, 1.500 ha lúa gieo bị hư hại. Tình h&#

Tác giả: Trần Văn Hậu

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

Đăng nhập

Người phát ngôn thông tin báo chí

Họ tên: Văn Anh Tuấn
Chức vụ: Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Số điện thoại: 0903589323
Email: vananhtuanqn@gmail.com








Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
Địa chỉ: 62 Hùng Vương, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam
ĐT: 02353.852739. Fax: 02353.852748. Email: vpubnd@quangnam.gov.vn
Trưởng Ban điều hành: ông Văn Anh Tuấn, Chánh Văn phòng UBND tỉnh
Ghi rõ nguồn "Văn phòng Ủy ban tỉnh Quảng Nam" khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này

Tổng số lượt truy cập
Lượt trong ngày
Design by QTI